Tình yêu, tự do, một mình

Yêu không biết tới gắn bó và cái mà biết tới gắn bó thì không phải là yêu.

Cái đó là sở hữu, chi phối, níu bám, sợ hãi, tham lam.

Quan sát. Nếu bạn bị gắn bó với một người, bạn có trong tình yêu không? Hay bạn sợ sự một mình của mình, cho nên bạn níu bám? Bởi vì bạn không thể một mình được, bạn dùng người này để cho không phải một mình. Thế thì bạn sợ. Nếu người này đi đâu đó khác hay yêu ai đó khác thì bạn sẽ giết người này và bạn sẽ nói “Tôi đã bị quá gắn bó”.

Điều này là cực kì ngu xuẩn. Nó không phải là tình yêu, nó là cái gì đó khác. Bạn sợ sự một mình của mình, bạn không có khả năng ở với bản thân mình, bạn cần ai đó làm xao lãng bạn. Và bạn muốn sở hữu người khác, bạn muốn dùng người khác như phương tiện cho mục đích của mình. Dùng người khác như phương tiện là bạo hành.

I. Kant đã là điều đó thành nền tảng của mình về cuộc sống đạo đức – nó là vậy. Ông ấy nói rằng đối xử với một người như một phương tiện là ành động vô đạo đức nhất có đó. Nó là vậy, bởi vì khi bạn đối xử với người khác như phương tiện, vì sự hài lòng của bạn, vì nỗi sợ của bạn, vì cái gì đó khác – khi bạn dùng người khác như phương tiện thì bạn đã quy người đó về một vật rồi. Bạn đang phá huỷ tự do của người đó, bạn đang giết chết linh hồn của người đó.

Đừng bao giờ đối xử với bất kì người nào như phương tiện. ĐỐi xử với mọi nguồ như mục đích tự thân của người đó – thế thì bạn không níu bám, thế thì bạn không bị gắn bó. Bạn yêu, nhưng tình yêu của bạn cho tự do – và khi bạn cho người khác tự do, bạn được tự do. Chỉ trong tự do thì linh hồn bạn mới phát triển. Bạn sẽ cảm thấy rất, rất hạnh phúc.

Linh hồn có thể phát triển chỉ trong tự do – tình yêu cho tự do. Và khi bạn cho tự do, bạn được tự do, đó là điều tách rời nghĩa là gì.

Nếu bạn cảm thấy hạnh phúc với bất kì cái gì đang phát triển, định tâm hơn, tiếp đất hơn, sống động hơn trước đây, thế thì lao vào nó. Thế thì không có sợ hãi. Để hạnh phúc là hòn đá thử, tiêu chuẩn – không có gì khác có thể là tiêu chuẩn được.

Không có vấn đề về hôn nhân chút nào, và không có vấn đề li dị. Nếu hai người muốn ở cùng nhau, họ có thể ở cùng nhau và nếu mọt ngày nào đó họ không muốn ở cùng nhau, điều đó hoàn toàn tốt. Đó là quyết định của họ, bây giờ họ có thể chọn bạn khác. Thực tế trong một cuộc đời sao không sống nhiều kiếp sống? Sao không làm cho nó phong phú hơn? Sao đàn ông phải níu bám lấy đàn bà, đàn bà phải níu bám lấy đàn ông khi họ không thích thú lẫn nhau nhiều tới mức họ muốn ở cùng nhau cả đời?

Ở Mỹ, tỉ lê thay đổi vợ chồng là ba năm. Nhưng trong công xã, không có nhu cầu làm ồn ào gì. Bạn có thể nói lời tạm biệt vào bất kì lúc nào, và bạn vẫn có thể làm bạn bè bởi vì ai mà biết được? Sau hai năm, có thể bạn vẫn yêu người đàn ông đó, người đàn bà đó bạn có thể quên mọi rắc rối, và bạn muốn có nếm trải nữa, hay có lẽ bạn đã rơi vào vòng tay của người đàn ông tồi hơn, người đàn bà tồi hơn, và bạn hối hận, và bạn muốn quay lại. Nhưng điều đó sẽ làm cho cuộc sống phong phú hơn, bạn sẽ biết nhiều đàn ông và nhiều đàn bà. Từng đàn ông đều có tính duy nhất riêng của mình, và từng đàn bà đều có tính duy nhất riêng của mình.

 

 

Advertisements

Thiền, tự do, tình yêu

Thiền nghĩa là: Gạt tâm trí sang bên và quan sát. Bước thứ nhất – yêu bản thân mình – sẽ giúp bạn nhiều vô cùng. Bằng việc yêu bản thân mình bạn sẽ phá huỷ đi nhiều điều mà xã hội đã cấy vào trong bạn. Bạn sẽ trở nên tự do với xã hội và những huấn luyện của nó.

Và bước thứ hai là quan sát – chỉ quan sát thôi. Phật không nói phải quan sát cái gì – mọi thứ! Bước, quan sát việc bước. Ăn, quan sát việc ăn. Tắm, quan sát nước, nước lạnh xối lên bạn, cái động chạm của nước, cái mát mẻ, cái rùng mình chạy qua xương sống bạn – quan sát mọi thứ, hôm nay, ngày mai, luôn luôn.

Cuối cùng một khoảnh khắc tới khi bạn có thể quan sát ngay cả giấc ngủ của mình. Đó là điều tôi thượng trong việc quan sát. Thân thể cứ ngủ và vẫn có người quan sát đang thức, im lặng quan sát thân thể ngủ say. Đó là điều tối thượng trong quan sát. Ngay bây giờ chính cái đối lập mới là trường hợp xảy ra: Thân thể bạn thức nhưng bạn đang ngủ. Thế rồi bạn sẽ thức và thân thể bạn sẽ ngủ.

Tạo ra năng lượng yêu quanh bản thân mình đi. Yêu thân thể bạn, yêu tâm trí bạn. Yêu toàn thể bộ máy của bạn, toàn thể tổ chức của bạn. Với “yêu” được ngụ ý là chấp nhận nó như nó đang đấy.

Quan sát là thiền, cái tên của Phật dành cho Thiền. Quan sát là khẩu lệnh của Phật. Ông ấy nói: nhận biết, tỉnh táo, đừng vô ý thức. Đừng cư xử theo cách đang …

Tình yêu thật sự ân cần chu đáo nhưng không lo lắng. Nếu bạn thực sự yêu một người, bạn sẽ ân cần chu đáo với nhu cầu thực của người đó nhưng bạn sẽ không biểu lộ lo lắng không cần thiết tới cái ngu xuẩn của người đó, những ý nghĩ kì cục ngu xuâtn của người đó. Bạn sẽ chăm nom tới các nhu cầu của người đó, nhưng bạn không có đó để đáp ứng các ham muốn hão huyền của người đó. Bạn sẽ không đáp ứng cái gì thực sự sẽ làm hại cho người đó.

Chẳng hạn bạn sẽ không đáp ứng bản ngã của người đó, mặc dầu bản ngã của người đó sẽ đòi hỏi. Người quá lo lắng, gắn bó, sẽ đáp ứng cho đòi hỏi của bản ngã – điều đó nghĩa là bạn đang đầu độc người yêu của mình. Ân cần chu đáo nghĩa là bạn sẽ thấy điều này không phải là nhu cầu thực sự mà là nhu cầu của bản ngã; bạn sẽ không đáp ứng nó.

Tình yêu biết từ bi nhưng không lo lắng. Đôi khi nó cứng rắn, bởi vì đôi khi nó cần cứng rắn. Đôi khi nó rất xa cách, nếu xa cách là có ích, nó chính là xa cách. Đôi khi nó rất lạnh nhạt, nếu nó cần phải lạnh nhạt thì nó lạnh nhạt. Bất kì cái gì là nhu cầu, tình yêu đều chu đáo tính tới – nhưng không lo lắng. Nó sẽ không đáp ứng cho bất kì nhu cầu không thực nào. nó sẽ không đáp ứng cho bất kì ý tưởng độc hại nào trong người khác.

Phục vụ tình yêu qua người yêu, để cho bạn không bao giờ trở nên bị gắn bó với người yêu. Và khi người ta không bị gắn bó với người yêu, tình yêu đạt tới những đỉnh cao nhất của nó. Khoảnh khắc người ta bị gắn bó, người ta bắt đầu tụt xuống thấp. Gắn bó là một loại hấp dẫn – không gắn bó mới là ân huệ. Tình yêu giả là cái tên khác cho gắn bó, tình yêu thật rất tách rời.

CHƯƠNG X: Ý NGHĨA CỦA SỰ CHẤP NHẬN MỌI VIỆC CHẤP NHẬN TẤT CẢ NHỮNG GÌ ĐANG XẢY RA(1)

Nhiều lần ông đã đề cập đến việc thực tập “chấp nhận vô điều kiện” những gì đang có mặt trong phút giây này. Nhưng tôi thực không đồng ý cách sống này vì nó có vẻ cam chịu, chấp nhận những việc đã xảy ra, và chúng ta chẳng cố gắng làm gì cả để thay đổi hoàn cảnh hiện tại. Theo tôi, chúng ta đạt được những tiến bộ, cả trong đời sống riêng tư và đời sống cộng đồng, là vì chúng ta đã không chấp nhận những giới hạn của hoàn cảnh hiện tại mà đã gắng sức vượt qua và tạo dựng nên một cái gì đó tốt đẹp hơn. Nếu chúng ta đã không làm như thế thì giờ đây chắc hẳn chúng ta vẫn còn sống ở trong hang. Làm cách nào mà ông có thể dung hòa được việc thực tập chấp nhận vô điều kiện với chuyện thay đổi và thực hiện mọi việc?

Đối với một số người, thái độ sống “chấp nhận vô điều kiện” những gì đang hiện hữucó hàm ý rất tiêu cực, có ý nghĩa cam chịu thất bại, trốn tránh, không muốn vươn lên để vượt qua được những thách thức của cuộc sống; là một cái gì đó thiếu sức sống… Nhưng ý nghĩa đích thực của sự chấp nhận vô điều kiện – mọi chuyện trong đời sống cá nhân – thực sự khác hẳn. Chấp nhận vô điều kiện mọi chuyện không phải là sự chịu đựng một cách thụ động với bất kỳ hoàn cảnh nào xảy đến cho bạn và bạn cứ phó mặc, chẳng làm gì cả… Chấp nhận hoàn toàn mọi thứ cũng không có nghĩa là thôi, không thiếp lập kế hoạch hoặc không còn tích cực hành động nữa.

Chấp nhận vô điều kiện mọi việc là một triết lý rất đơn giản nhưng sâu xa, rằng ta nên nương theo hơn là đi ngược lại dòng chảy của đời sống(2). Và tiêu điểm duy nhất mà bạn có thể trải nghiệm dòng chảy ấy của đời sống là phút giây hiện tại(3), vì vậy chấp nhận hoàn toàn mọi việc là chấp nhận giây phút hiện tại, không điều kiện và không chút e dè. Điều đó cũng có nghĩa là bạn phải từ bỏ sự bất bình, hay chống đối từ bên trong bạn với những gì đang hiện hữu. Sự tranh đấu trong nội tâm sẽ xảy ra khi nào bạn còn khước từ những gì đang có mặt trong phút giây hiện tại. Sự chống đối nội tại này bùng phát mạnh mẽ khi có chuyện “trục trặc”, nghĩa là khi có một khoảng cách giữa những yêu cầu khắt khe của lý trí(4) ở trong bạn với những gì đang thực sự xảy ra; đó thực là một khoảng cách đớn đau. Nếu bạn là một người từng trải, bạn biết rằng mọi việc trong đời sống thường hay bị “trục trặc”, thường rất dễ “có vấn đề”. Chính vào những lúc đó, ta cần phải thực tập chấp nhận vô điều kiện những gì đang xảy ra để giúp ta loại trừ những khổ đau và buồn phiền thường dấy lên ở trong ta. Chấp nhận được những gì đang có mặt trong phút giây hiện tại, ngay lập tức giúp bạn thoát ra khỏi thói quen đồng hóa mình với những suy tư, lo lắng ở trong mình và đưa bạn đến với tư thái ung dung tự tại(5) đối với cuộc đời. Khi nào bạn còn vin vào lý trí thì bạn sẽ còn sự chống đối ở trong lòng.

Chấp nhận vô điều kiện mọi việc là một hiện tượng thuần túy ở bên trong. Nhưng điều đó không có nghĩa là, ở bên ngoài, bạn sẽ không hành động gì cả để thay đổi tình trạng. Thật ra, khi thực tập chấp nhận vô điều kiện một cách đúng đắn, bạn không cần phải chấp nhận toàn thể tình huống đó, mà thực ra bạn chỉ chấp nhận một tiêu điểm rất nhỏ của tình huống: đó là phút giây hiện tại.

Ví dụ, khi bạn đang bị lún trong một vũng bùn, bạn không nói: “À, từ phút này trở đi, tôi cam chịu bị lún và tôi cứ ở lì mãi ở trong đó”. Mà chỉ là: “Tôi chấp nhận, là ngay trong phút giây này, tôi đang bị lún bùn”. Khi chấp nhận được tình trạng hiện thời, tôi sẽ có sự chú tâm và năng lực để làm những gì tôi cần làm sau đó để giúp tôi thoát ra khỏi vũng bùn. Ép buộc mình phải cam chịu một tình huống không phải là chấp nhận hoàn toàn mọi việc. Bạn không cần phải chấp nhận mọi tình huống trong đời sống mà bạn không thích. Cũng không cần phải tự dối mình và khẳng định rằng việc lún xuống bùn thì cũng chẳng sao. Không, bạn hoàn toàn nhận thức được rằng bạn muốn thoát ra khỏi vũng lầy đó. Rồi bạn thu hẹp sự chú tâm của mình vào giây phút hiện tại, không để lý trí bạn quy kết, nói xấu, hay dán nhãn hiệu cho tình trạng này dưới bất cứ hình thức nào. Điều này có nghĩa là bạn sẽ không phán xét, chê bai những gì đang xảy ra trong phút giây hiện tại, vì thế trong bạn sẽ không có sự chống đối, và không có những cảm xúc tiêu cực. Bạn chấp nhận những gì đang có mặt trong phút giây này. Rồi bạn bắt tay vào hành động, và làm tất cả những gì bạn có thể làm để thoát ra khỏi vũng bùn. Đó là một thái độ rất tích cực. Nó hiệu quả hơn rất nhiều so với thái độ tiêu cực xuất phát từ sự giận dữ, tuyệt vọng hay bối rối. Bạn cần phải thực tập chấp nhận hoàn toàn mọi chuyện bằng cách ngăn mình, nhất định không quy kết, chê bai phút giây hiện tại cho đến khi bạn đạt được kết quả mong muốn.

Thái độ không chấp nhận hoàn cảnh sống, hoặc tình trạng tâm lý, tình trạng vật lý,… đang xảy ra cho bạn, nếu có, sẽ dựng nên quanh bạn một ốc đảo tâm lý. Chiếc áo giáp của bản ngã giả tạo ở trong bạn sẽ tạo ra cho bạn một cảm giác cách ly càng mãnh liệt hơn với mọi thứ chung quanh. Đối với bạn lúc ấy, thế giới chung quanh chỉ đầy những cảm giác đe dọa, bất an. Bạn không biết là mình đang bị thôi thúc bởi những phán xét có tính chất tàn hại đối với người khác, kèm theo trong bạn một nhu yếu tranh giành và chế ngự kẻ khác. Ngay cả thiên nhiên cũng trở thành kẻ thù của bạn. Lúc ấy, sự sợ hãi sẽ chi phối tất cả mọi cảm nhận và suy tư của bạn. Trạng thái nhận thức bình thường nhưng rất trái chiều này chỉ là dạng nhẹ hơn của căn bệnh gọi là bệnh tâm thần.

Không những trạng thái tâm lý mà tình trạng thể chất của bạn – thân thể – cũng trở nên cứng nhắc vì khó thay đổi do có sự phản kháng bên trong. Căng thẳng trong thân thể bạn sẽ gia tăng, toàn bộ cơ thể bạn sẽ bị co rúm lại. Dòng khí lực, nguồn năng lượng sống ở trong bạn bình thường được chuyển vận tự do khắp thân thể, rất thiết yếu cho cơ thể bạn làm việc một cách khỏe mạnh nay sẽ bị cản trở. Những trị liệu thân thể như nhân điện và những cách điều trị thân thể vật lý khác cũng có thể giúp bạn khôi phục dòng khí lực này nhưng chúng chỉ làm giảm tạm thời vì gốc rễ của nó – sự phản ứng có tính chất rập khuôn, đầy quán tính(6)– chưa được tiêu trừ, trừ phi bạn thực hành chấp nhận vô điều kiện trong đời sống hàng ngày.

Có một cái gì đó không hình tướng, thường hằng, bất biến,… ở trong bạn. Nó không bị tác động bởi những tình huống nhất thời tạo nên hoàn cảnh sống của bạn, mà chỉ qua sự thực tập chấp nhận hoàn toàn mọi việc thì bạn mới có thể tiếp xúc được. Cái đó chính là dòng sinh mệnh thiêng liêng của bạn, Bản Chất tự nhiên ở trong bạn. Cái Biết bàng bạc không hình tướng đó luôn tồn tại miên viễn trong cõi hiện tiền, vượt thoát khỏi thời gian. Chúa Jesus từng nói rằng ta phải tiếp xúc được với Cái Biết mầu nhiệm, sâu sắc ấy ở trong ta(7) – phải tiếp xúc cho được với nguồn sống bất biến, bất hoại ấy ở trong mỗi người; Ngài nói: “Đó là điều duy nhất mà con cần làm”.

—–

Nếu bạn cảm thấy hoàn cảnh sống của mình không thoải mái hay không thể chịu đựng được nữa, thì trước tiên bạn phải thực tập chấp nhận vô điều kiện những gì đang xảy ra trong hoàn cảnh sống của mình thì bạn mới mong phá vỡ được những khuôn mẫu phản kháng có tính chất thiếu hiểu biết và rập khuôn lâu đời ở trong bạn đã vô tình giúp cho tình trạng ấy kéo dài.

Trạng thái chấp nhận hoàn toàn mọi chuyện thực ra rất dung hợp với việc bắt tay vào hành động để tạo thay đổi hay đạt được mục tiêu. Nhưng trong trạng thái chấp nhận hoàn toàn ấy, bạn sẽ cảm nhận được một nguồn năng lượng mới hoàn toàn khác, có chất lượng khác lan tỏa, thẩm thấu vào những công việc của bạn làm. Qua thực tập chấp nhận hoàn toàn mọi việc, bạn tiếp xúc được với một nguồn năng lượng của Sự Có Mặt Mầu Nhiệm ở trong bạn và bạn làm việc trong sự Có Mặt đầy ý thức đó của mình, những việc bạn làm sẽ trở thành một niềm hoan lạc của bạn, giúp bạn tiếp xúc sâu sắc hơn với phút giây hiện tại. Nhờ không còn phản kháng, chất lượng của ý thức sáng tỏ ở trong bạn và những gì bạn đang làm được gia tăng một cách không thể đo lường được. Hoa trái và niềm vui mà bạn có được trong khi làm việc trong sự Có Mặt đầy ý thức ấy sẽ bổ sung cho nhau và những việc bạn làm sẽ phản ánh chất lượng đó. Điều này có thể gọi là “làm” trong trạng thái ung dung tự tại, làm mà không có sự chống đối ở bên trong, làm dễ dàng như không đang làm. Đó không phải là kiểu làm việc (ta tạm gọi là “làm như điên”, hay “làm một cách máy móc”) của đa số chúng ta đã từng làm và đã chứng kiến hàng ngàn năm qua. Khi có thêm nhiều người thức tỉnh nữa, cách “làm” hay “hành động” một cách máy móc ấy có lẽ sẽ biến mất, vì lúc đó người ta sẽ tạo ra một từ mới để thay thế cho từ này.

Chất lượng của tâm thức bạn trong thời điểm này chính là yếu tố chính quyết định những kinh nghiệm và tương lai nào bạn sẽ gặp phải, vì vậy thực tập chấp nhận vô điều kiện mọi chuyện là điều quan trọng nhất bạn có thể làm để mang lại những thay đổi tích cực ở trong bạn. Ngoài ra, bất cứ hành động nào bạn sẽ làm cũng đều là thứ yếu. Không thể có những hành động tích cực nào có thể nảy sinh qua trạng thái tâm thức không chấp nhận cả.

Tôi hiểu rằng nếu tôi gặp phải hoàn cảnh không thoải mái mà tôi hoàn toàn chấp nhận giây phút đó thì sẽ không có cảm giác bất hạnh hoặc khổ đau, và tôi sẽ vượt qua được hoàn cảnh ấy. Vấn đề là nếu tôi không có sẵn một mức độ không hài lòng nào đó thì tôi không biết lấy năng lượng hay động cơ từ đâu để giúp tôi bắt tay vào hành động, và đem lại những đổi thay!

Trong trạng thái chấp nhận vô điều kiện mọi việc, bạn sẽ thấy được những gì cần phải làm, chỉ làm mỗi lúc một việc, và bạn dễ tập trung hết tinh thần vào để giải quyết những việc ấy. Ta hãy học từ thiên nhiên cách mà mọi thứ tự hoàn thiện và cách mà đời sống tự phơi bày ra, không mảy may u buồn, không mảy may thất vọng. Chúa Jesus đã từng nói: “Con hãy nhìn những bông hoa huệ kia, xem cách chúng lớn lên, không loay hoay mà cũng chẳng nhọc nhằn”.

Nếu tình thế chung của bạn không được dễ chịu, hãy tách ly phút giây này và chấp nhận vô điều kiện những gì đang hiện hữu trong phút giây ấy. Đó sẽ là ánh đèn pha xuyên thủng đám sương mù. Trạng thái sống với ý thức sáng tỏ đó sẽ giúp bạn không còn bị chi phối bởi những yếu tố bên ngoài. Bạn sẽ không còn hành xử từ khuynh hướng phản ứng và chống đối quanh những vấn đề của bạn. Rồi bạn nhìn vào những đặc thù của tình huống đó, và tự hỏi mình “Ta có thể làm được gì để thay đổi tình trạng này? Ta cần cải thiện tình trạng hay thoát khỏi nó?”, xong bạn bắt tay vào hành động. Chỉ cần chú tâm vào một thứ mà bạn có thể làm ngay bây giờ, không phải là hằng trăm thứ mà bạn sẽ làm, hay có thể làm trong tương lai. Điều này không có nghĩa là bạn không cần lập kế hoạch. Có khi kế hoạch là chuyện duy nhất mà bạn có thể làm trong lúc này. Nhưng bạn nhớ là không tưởng tượng hay hình dung điều này, điều nọ, đừng phóng tâm về tương lai mà đánh mất phút giây hiện tại. Có lúc những việc làm của bạn chưa thấy kết quả ngay. Tuy nhiên cho đến khi những việc bạn làm ấy đưa đến hoa trái, xin bạn nhớ không nên chống đối với những gì đang có mặt trong lúc này. Nếu bạn cảm thấy không làm được gì, và cũng không thoát ra khỏi được tình huống đó thì hãy dùng nó để giúp bạn đi sâu vào việc thực tập chấp nhận hoàn cảnh sống của bạn, giúp bạn thể nhập Hiện Tại, đi sâu vào Hiện Hữu. Khi bạn đi sâu vào cõi phi-thời-gian này của phút giây hiện tại, những thay đổi kỳ diệu thường xảy đến cho bạn một cách lạ kỳ mà bạn không cần phải làm gì cả. Lúc đó cuộc đời bỗng nhiên có ích và thân thiện với bạn hơn. Nếu có những chướng ngại bên trong bạn như cảm giác sợ hãi, tội lỗi, hay bất lực,… trước đây thường hay cản ngăn bạn bắt tay vào thực hiện một việc gì, thì bây giờ những chướng ngại đó sẽ tự tan biến trước ánh sáng của sự có mặt đầy ý thức ở trong bạn.

Đừng nhầm lẫn chấp nhận vô điều kiện mọi việc với thái độ “chẳng có gì có thể quấy nhiễu được ta” hoặc “ta chẳng màng thứ gì”. Vì khi nhìn kỹ vào, bạn sẽ thấy những thái độ này nhuốm màu tiêu cực, hay được dùng để che đậy những cảm giác tránh né, bất mãn,… vì thế thái độ đó không phải là thực sự chấp nhận hoàn toàn chỉ là sự chống đối đã được ngụy trang. Khi bạn thực tập chấp nhận vô điều kiện, hãy hướng sự chú tâm của mình vào bên trong, để ý xem có dấu vết nào của thái độ chống đối trong lòng mình không? Bạn phải rất tỉnh táo vì có thể trong một góc tối nào đó của tâm thức bạn, thái độ chống đối vẫn còn ẩn nấp dưới dạng một suy nghĩ nào đó hay một cảm xúc tiêu cực, không được bạn thừa nhận.

—–

 

TỪ SỨC MẠNH TRÍ ÓC SANG SỨC MẠNH TÂM LINH

 

Buông bỏ thái độ chống đối là việc nói thì dễ nhưng làm thì rất khó. Tôi vẫn chưa thấy được cách nào để buông bỏ sự chống đối này. Nếu ông nói là qua thực tập chấp nhận vô điều kiện hoàn cảnh sống, thì vấn đề là “bằng cách nào”?

Bạn bắt đầu bằng cách thừa nhận rằng trong bạn đang có sự chống đối. Hãy có mặt ở đó khi nó xuất hiện. Quan sát cách mà trí óc bạn tạo ra nó, cách trí năng bạn gièm pha hoàn cảnh hiện tại mà bạn đang gặp phải, cách trí năng bạn phê phán chính bạn, hay cách nó nói xấu những người khác. Hãy quan sát quá trình tư tưởng đi kèm, hãy cảm nhận năng lượng của những cảm xúc ở trong bạn. Qua việc mục kích sự phản đối, bạn sẽ thấy rằng nó chẳng có mục đích gì. Bằng cách tập trung tất cả sự chú tâm của bạn vào phút giây hiện tại, sự phản đối ở trong bạn đang từ trạng thái vô minh nay trở thành có ý thức và đó chính là phút lâm chung của sự phản đối ấy ở trong bạn. Bạn không thể vừa có ý thức rất sáng suốt mà lại vừa khổ đau; hoặc vừa có nhận thức rất trong sáng, nhưng lại vừa cảm thấy rất tiêu cực. Tiêu cực, hay đau khổ dưới bất cứ hình thức nào cũng đều bao hàm sự phản đối, và phản đối thì luôn luôn là do sự thiếu hiểu biết.

Có chắc là tôi nhận thức rõ cảm giác đau khổ trong tôi không?

Bạn có muốn chọn để tiếp tục chịu khổ đau không? Nếu bạn đã không chọn thì làm sao nó xảy ra được? Mục đích của việc bạn tiếp tục chịu khổ đau như thế nhắm đến điều gì? Ai làm cho những khổ đau này trong bạn được tiếp diễn? Tuy bạn nói rằng, bạn nhận thức được những cảm giác khổ sở ở trong bạn, nhưng sự thật là bạn đã bị đồng hóa với những cảm xúc đó(8) và đã làm cho quá trình ấy được tiếp diễn qua lối suy nghĩ không tự chủ được. Tất cả những kinh nghiệm khổ sở như thế, bạn đã đều kinh nghiệm trong vô thức, trong trạng thái thiếu sáng suốt. Nếu bạn thực sự tỉnh thức, tức là hoàn toàn có mặt trong Phút Giây Hiện Tại, thì tất cả những tiêu cực kia đều tan biến ngay tức thì. Tiêu cực không thể nào tồn tại khi bạn thực sự hiện diện. Tiêu cực chỉ có thể tồn tại khi bạn vắng mặt. Ngay cả khối khổ đau của bạn cũng không thể tồn tại lâu khi bạn thực sự có mặt. Bạn đã vô tình làm sống lại nỗi đau cũ trong bạn bằng cách hay để cho tâm trí mình hồi tưởng về quá khứ, hoặc thêu dệt chuyện tương lai. Đó là thức ăn nuôi sống khối khổ đau ấy. Qua nhận thức sâu sắc về phút giây hiện tại, quá khứ và tương lai trong tâm thức bạn sẽ bị tiêu trừ. Vấn đề là bạn có muốn chấm dứt những khổ đau ấy ở trong mình chưa? Bạn khổ đã đủ chưa? Cũng đừng nên hoảng sợ vì bạn không biết mình sẽ trở thành một người như thế nào, khi bạn quyết định buông bỏ hết, không còn ôm cứng lấy những khổ đau này.

Cho đến khi nào mà bạn thực sự chấp nhận vô điều kiện (những khó khăn, khổ sở bạn đang gặp phải trong quan hệ cá nhân, trong quan hệ với những người thân trong gia đình, với những người đồng nghiệp,…) thì con đường tâm linh của bạn mới không là những thứ phù phiếm mà bạn chỉ đọc qua cho vui thôi, hoặc thích bàn bạc, hoặc thích thú, hoặc để viết rất nhiều sách về nó, hoặc để nghĩ về, hay tin vào – hay không tin gì cả. Vì tất cả những thứ này sẽ chẳng tạo ra được thay đổi gì thực sự trong đời sống tâm linh của bạn cả. Phải đến khi nào bạn thực tập chấp nhận vô điều kiện những khó khăn mà bạn đang gặp phải trong lúc này, thì con đường tâm linh mới trở thành một thực thể sống động trong đời sống của bạn. Khi đó năng lượng mà bạn tỏa ra, cũng trở thành năng lượng điều hành đời sống của bạn, đây là một năng lượng có tần số rung rất cao, cao hơn loại năng lượng của lý trí mà hiện nay vẫn còn chế ngự thế giới này – loại năng lượng của trí năng đã tạo nên cơ cấu xã hội, chính trị và kinh tế của nền văn minh phương Tây, và hiện tại vẫn đang tiếp tục thẩm thấu vào hệ thống giáo dục và ngành truyền thông, tin tức. Chỉ qua việc thực tập chấp nhận vô điều kiện của bạn, năng lượng tâm linh ấy mới có thể thấm vào thế giới này. Năng lượng tâm linh là thứ năng lượng sẽ không tạo tác thêm đau khổ cho bạn, cho người khác và cho bất cứ vật thể sống nào khác. Năng lượng tâm linh sẽ không làm ô nhiễm trái đất như loại năng lượng lý trí, và nó sẽ không tuân theo định luật đối cực – có tốt, ắt có xấu,… Những người vẫn còn sống theo năng lượng của lý trí – là phần lớn cư dân trên địa cầu này – vẫn chưa ý thức được sự hiện hữu của năng lượng tâm linh. Năng lượng này thuộc về một trật tự khác, cao hơn của thực tại. Năng lượng tâm linh này sẽ tạo dựng nên một thế giới mới khi có đủ số người đạt đến trạng thái chấp nhận vô điều kiện, hoàn toàn thoát ra khỏi tiêu cực. Nếu trái đất này của chúng ta còn tồn tại được ngày hôm nay, là do năng lượng của những nhà hiền triết, những người hoàn toàn tỉnh thức đang sinh sống ở trên đó.

Chúa Jesus đã đề cập đến dạng năng lượng mới này khi ngài đưa ra phát biểu có tính tiên tri trong Bài Thuyết Giáo Trên Núi (The Sermon on the Mount): “May mắn thay những người đang tỉnh thức, họ sẽ là chủ nhân của trái đất này”. Sự hiện hữu im lặng nhưng mạnh mẽ ấy sẽ làm tiêu tan những khuôn mẫu u mê của lý trí. Những vô minh này có thể vẫn còn hoạt động trong một thời gian nữa, nhưng nó sẽ không còn đủ sức mạnh để điều khiển đời sống của bạn. Sự chống đối những điều kiện sống khó khăn của bạn ở bên ngoài dần dần cũng sẽ có xu hướng tự hóa giải, chuyển đổi khi bạn thực tập chấp nhận vô điều kiện hoàn cảnh sống của bạn. Đó là một thực tập có năng lượng cải biến toàn diện hoàn cảnh sống và chuyển hóa con người của bạn. Nếu hoàn cảnh sống của bạn tuy chưa thay đổi liền, nhưng khi bạn chấp nhận Hiện Tại, điều đó sẽ giúp bạn vượt thắng hoàn cảnh. Dù chuyện này xảy ra cách nào đi nữa thì bạn cũng sẽ được tự do.

—–

 

 

CHẤP NHẬN HOÀN TOÀN TRONG QUAN HỆ CÁ NHÂN

 

Còn những người muốn lợi dụng, thao túng hay kiểm soát tôi thì sao? Tôi có phải thực tập chấp nhận vô điều kiện với họ không?

Những người như thế là những người đã bị cách ly ra khỏi trạng thái an nhiên tự tại, do đó họ hành động trong mê muội, mong rút được chút năng lượng và sức mạnh của bạn. Chỉ có những người mê lầm mới muốn lợi dụng hay thao túng người khác và cũng chỉ những người mê lầm mới bị thao túng và lợi dụng. Nếu bạn cưỡng lại hay chống đối hành vi mê lầm này của người khác, thì bạn cũng trở nên u mê. Chấp nhận vô điều kiện trong quan hệ cá nhân không có nghĩa là cho phép mình bị người khác lợi dụng. Cùng một lúc, bạn có thể dứt khoát nói “không” với một người hay thoát khỏi một tình huống bất như ý, và đồng thời bạn hoàn toàn ở trong trạng thái bất phản kháng ở trong lòng. Khi bạn nói “không”, xin hãy nói từ một chỗ rất sáng suốt ở trong bạn, mà không phải nói từ chỗ phán xét, hay phản ứng. Xin nói từ một nhận thức rất rõ ràng về những gì tốt hay không tốt cho bạn vào lúc đó. Hãy nói “không” một cách không phản ứng, hãy nói “không” với một chất lượng cao, nói “không” từ chỗ đã vượt thoát mọi tiêu cực và do đó bạn sẽ không tạo thêm đau khổ.

Tôi gặp phải một tình huống không được thoải mái trong công việc. Tôi đã cố để chấp nhận tình trạng ấy, nhưng tôi không thể làm được. Trong tôi xuất hiện rất nhiều chống đối.

Nếu bạn không thể chấp nhận hoàn cảnh đó, thì bạn hãy trầm tĩnh để tìm ra phương cách giúp bạn quyết định nhanh chóng. Bạn cần mềm mỏng nói ra những gì bạn cần nói, hay làm một cái gì đó để thay đổi tình trạng. Hoặc bạn có thể tìm một cách thông minh để thoát ra khỏi tình trạng đó. Bạn hãy chịu trách nhiệm hoàn toàn về cuộc đời của mình(9).  Đừng làm bẩn đi Bản Thể đẹp đẽ và rạng rỡ ở trong bạn hay làm bẩn thế giới này bằng những gì tiêu cực. Đừng tạo nên chỗ trú ẩn cho khổ đau ở trong bạn, dưới bất cứ hình thức nào.

Nếu bạn không thể hành động, ví dụ như bạn đang ở trong tù, bạn vẫn còn hai lựa chọn: Chống đối hay chấp nhận hoàn cảnh tù đày của mình. Hãy lựa chọn: sự mất tự do ở bên ngoài, hay sự tự do ở trong lòng. Hãy chọn lựa giữa khổ đau vì còn muốn chống đối, hay niềm yên bình ở nội tâm vì đã biết chấp nhận hoàn cảnh tù đày của mình.

Có phải không chống đối cũng phải được thực tập qua hành vi bên ngoài trong đời sống của chúng ta, như bất phản kháng với bạo động, hay nó chỉ liên quan đến nội tâm?

Bạn chỉ cần quan tâm đến bên trong. Đó là phần chủ chốt vì nó sẽ thay đổi những hành vi bên ngoài của bạn. Thái độ chấp nhận vô điều kiện trong quan hệ cá nhân cũng thay đổi sâu sắc những mối quan hệ khác của bạn. Nếu bạn không thể chấp nhận những gì đang xảy ra trong quan hệ với người khác tức là bạn không thể chấp nhận cách hành xử của họ. Bạn sẽ có khuynh hướng phán xét, phê bình, quy kết, bài bác hay cố gắng thay đổi họ. Hơn nữa, nếu bạn cứ muốn biến Hiện Tại thành một phương tiện để cho bạn đạt được một mục tiêu trong tương lai, thì bất kỳ người nào mà bạn gặp gỡ cũng đều trở thành một phương tiện để cho bạn đạt được một cái gì đó. Đối với bạn lúc ấy, quan hệ giữa người với người sẽ trở thành thứ yếu, hay không quan trọng; cái chính chỉ là bạn có thu được mối lợi gì qua quan hệ đó không – có thể đó là một lợi ích về vật chất, hoặc có ưu thế quyền lực hơn, hoặc có sự khoái cảm nào đó về thể xác, hay một sự vỗ về cho bản ngã của mình…

Tôi sẽ minh chứng thái độ chấp nhận vô điều kiện trong quan hệ cá nhân tác động như thế nào trong những quan hệ khác của bạn. Khi bạn lâm vào một cuộc tranh cãi hay một tình huống chống đối với người hùn vốn hay với một người thân, bạn hãy quan sát khuynh hướng mình bị biến thành bảo thủ như thế nào khi bản thân bạn bị công kích, hay bạn có thể cảm nhận tính hung hãn của mình khi bạn công kích người khác. Hãy quan sát cách bạn bảo vệ quan điểm và ý kiến của mình như thế nào. Hãy cảm nhận năng lượng vũ bão về tinh thần và cảm xúc của bạn ẩn giấu đằng sau nhu cầu khẳng định rằng mình là luôn luôn đúng và người kia là luôn luôn sai. Đó chính là sức mạnh của lý trí đầy bản ngã ở trong bạn. Bạn chỉ có thể nhận thức được năng lượng ấy của bản ngã bằng cách thừa nhận sự có mặt của nó, cảm nhận năng lượng ấy càng rõ và đầy đủ chừng nào càng tốt chừng ấy. Sẽ có một ngày nào đó, khi đang giữa chừng của một cuộc tranh cãi, bạn chợt nhận ra rằng “Ồ, tôi có quyền chọn lựa mà!” và bạn có thể lập tức chọn để buông bỏ những phản ứng đầy tính bản ngã ở trong mình – cho dù chỉ để xem điều gì sẽ xảy ra. Đó là khi bạn đã thực tập chấp nhận vô điều kiện trong quan hệ cá nhân. Tôi không muốn nói rằng bạn sẽ buông bỏ thái độ phản ứng bằng cách nói “À, thì ông đúng!” trong khi vẻ mặt của bạn còn dương dương tự đắc ngụ ý rằng “Tôi đã vượt qua những trò trẻ con này rồi!”. Không. Điều đó chỉ là cách che đậy sự chống đối ở trong bạn ở một mức độ khác, vì lý trí đầy bản ngã trong bạn vẫn còn chế ngự bạn, khi bạn cho rằng mình vẫn luôn hay hơn người khác. Ở đây tôi muốn nói đến sự buông bỏ toàn bộ trường năng lượng cảm xúc và tinh thần, những cái nằm bên trong bạn đang đấu tranh cho những thứ mà bạn cho là quyền hành.

Bản ngã của chúng ta rất tinh quái, vì vậy bạn phải rất tỉnh táo, phải rất có mặt và hoàn toàn thành thật với chính mình để xem là bạn đã thực sự từ bỏ thói quen tự đồng hóa mình với những ý kiến, hay quan điểm của mình chưa. Từ đó bạn sẽ giúp cho mình thoát ra khỏi sự kiềm chế của trí năng. Nếu bạn chợt cảm thấy rất nhẹ nhõm, sáng tỏ và có một niềm an bình sâu sắc, đó đúng là dấu hiệu cho thấy bạn đã có sự chấp nhận toàn diện. Rồi bạn hãy quan sát những gì đang xảy đến với quan điểm và ý kiến của người khác khi bạn không còn tạo thêm sức mạnh cho chúng bằng sự chống đối. Sự thấu hiểu thật sự giữa người với người chỉ bắt đầu khi chúng ta không còn bảo vệ hay đồng nhất mình với những quan điểm và ý kiến riêng của mình nữa.

Thái độ bất phản kháng sẽ giúp được gì ta khi đang gặp phải tình trạng bị bạo hành, hay xâm phạm, v.v…?

Bất phản kháng không có nghĩa là không làm gì cả, mà chỉ là những việc của ta đang “làm” bây giờ được làm từ chỗ bất phản kháng. Võ thuật phương Đông có triết lý sâu xa: Đừng kháng cự lại sức mạnh của đối phương, chỉ cần nương vào đó mà vượt qua(10).

Đã nói như thế thì thái độ “vô hành” khi bạn đã đạt đến trạng thái có mặt đích thực là phương thuốc biến cải và chữa lành rất kỳ diệu hoàn cảnh và con người. Lão giáo có khái niệm “Vô vi” tức là “an nhiên, vô sự, làm mà như chẳng có chuyện gì phải làm cả”(11). Thời xưa ở Trung Hoa, hạnh “vô vi” được xem là một trong những thành tựu hay đức hạnh cao nhất. Nó khác hẳn về căn bản với chuyện “không làm gì cả” trong trạng thái ý thức thông thường của chúng ta, xuất phát từ cảm giác sợ hãi, bất lực, biếng nhác hay không quyết đoán. “Vô vi” thực sự bao hàm một nội tâm bất phản kháng với mức tỉnh thức cao độ.

Mặt khác, nếu cần phải bắt tay hành động, bạn sẽ không còn phản ứng theo loại lý trí bị bó buộc mà bạn sẽ đối phó với tình huống bằng sự hiện hữu đầy ý thức của mình. Trong trạng thái đó, tâm thức bạn không bị kềm kẹp bởi khái niệm, kể cả khái niệm bất bạo động. Cho nên bạn không thể biết trước được bạn sẽ hành động như thế nào.

Bản ngã bạn tin rằng sức mạnh của bạn nằm ở sự phản kháng, trong khi sự thực phản kháng cách ly bạn khỏi trạng thái ung dung tự tại, nơi duy nhất bạn có năng lực thật sự. Phản kháng chỉ là sự yếu kém và sợ hãi được biểu dương như là sức mạnh. Cái mà bản ngã bạn cho là yếu kém chính là sự Có Mặt của bạn trong trạng thái tinh khiết, trong sáng và đầy sức mạnh. Những gì bản ngã cho là sức mạnh chính là sự yếu kém. Vì vậy bản ngã trong bạn chỉ có thể tồn tại trong một mô thức chống đối liên tục và luôn giả vờ giúp bạn che đi những “khuyết điểm” của bạn; nhưng những tính chất tinh khiết và trong sáng ấy mới thực sự chính là sức mạnh của bạn.

Cho đến khi bạn thực sự chấp nhận hoàn toàn những điều bất như ý, việc bạn cư xử giả dối một cách vô ý thức chiếm phần lớn trong quan hệ giao tiếp giữa bạn với người khác. Khi có sự chấp nhận hoàn toàn trong quan hệ, bạn không còn cần bảo vệ bản ngã và thôi đóng những vai trò thân thiện nhưng giả dối ấy nữa. Bạn sẽ trở thành một người rất chân thật và đơn giản. Nhưng hãy coi chừng, vì lúc đó bản ngã ở trong bạn sẽ đe dọa bạn: “Nguy hiểm đấy, mày sẽ bị tổn thương ngay. Mày sẽ yếu đuối lắm đấy”. Điều mà bản ngã trong bạn không hề biết là chỉ khi bạn buông bỏ tất cả những chống đối và trở nên một con người “rất dễ bị tổn thương”, bạn mới thực sự khám phá được cái chân thực không-thể-bị-thương-tổn và chân chính ở trong bạn.

—–

 

CHUYỂN HÓA BỆNH TẬT THÀNH GIÁC NGỘ

 

Khi một người đang đau và hoàn toàn chấp nhận bệnh trạng cũng như chấp nhận hoàn toàn nỗi đau, như thế có phải là họ đã buông bỏ luôn ước muốn được lành bệnh? Quyết tâm kháng cự với bệnh tật sẽ không còn nữa, đúng không?

Chấp nhận vô điều kiện tình trạng sức khỏe của mình là sự chấp nhận nội tại với những gì đang xảy ra, liên quan đến tình trạng sức khỏe của mình, một cách vô điều kiện. Nhưng chúng ta đang nói về đời sống – giây phút này – chứ không phải là những điều kiện hay hoàn cảnh của đời bạn. Điều này chúng ta đã đề cập đến trước đây.

Bệnh tật là một phần trong đời sống của bạn. Vì vậy nó có quá khứ và tương lai. Quá khứ và tương lai tạo thành một chuỗi không gián đoạn; trừ phi, qua sự hiện hữu đầy ý thức của bạn, năng lực cứu rỗi của phút giây hiện tại được hiển bày. Bên dưới những điều kiện làm nên tình huống trong đời sống của bạn – điều chỉ có thể tồn tại trong thời gian – còn có một cái gì đó thâm sâu và chân chính hơn: Sự Sống của chính bạn, Bản Thể hùng hồn của chính bạn trong phút giây hiện tại bất tận.

Vì không có vấn nạn gì trong Phút Giây này, nên sẽ không có bệnh tật – cái mà người khác tin tưởng và gán cho hoàn cảnh của bạn, làm cho hoàn cảnh đó hiện diện, tạo sức mạnh cho nó và giúp nó trở thành một thực tiễn có vẻ chắc chắn trên cơ sở của một sự mất quân bình tạm thời; cho nó không những tính hiện thực, tính chắc chắn mà còn là tính liên tục qua thời gian mà trước đó nó chưa từng có. Bằng cách chú tâm vào giây phút này và không dán nhãn hiệu tốt xấu gì cho nó, sự đau đớn của thể xác, cảm giác đuối sức, sự khó chịu hay sự bất lực nào trong người bạn sẽ giảm thiểu xuống nhiều lần. Đó chính là cái mà bạn cần thực tập chấp nhận – ngay lúc này. Bạn không cần phải chấp nhận ý tưởng “bệnh tật”. Hãy để cho nỗi đau đưa bạn đến với Phút Giây Hiện Tại, đưa bạn đến với trạng thái có mặt với ý thức mạnh mẽ những gì đang xảy ra. Hãy dùng nó để đưa bạn đến giác ngộ.

Chấp nhận vô điều kiện bệnh trạng của mình không trực tiếp chuyển hóa những gì đang xảy ra. Nhưng thực tập chấp nhận vô điều kiện này chuyển hóa chính bạn. Khi bạn đã được chuyển hóa, toàn bộ thế giới cũng chuyển hóa theo, vì thế giới quả thực chỉ là một sự phản ánh của chính bạn. Chúng ta đã đề cập đến điều này trước đây.

Nếu bạn soi gương và bạn không thích những gì mình đang nhìn thấy, có họa điên bạn mới tấn công hình ảnh mình nhìn thấy ở trong gương. Nhưng đó lại là điều bạn thường làm khi bạn ở trong trạng thái không chấp nhận. Dĩ nhiên nếu bạn tấn công hình ảnh trong gương, thì hình ảnh ấy sẽ tấn công lại bạn. Nếu bạn chấp nhận nó, dù nó có là gì đi nữa, nếu bạn thân thiện với nó, lúc đó nó không thể không thân thiện lại với bạn. Đây là cách bạn thay đổi thế giới.

Bệnh tật không phải là vấn đề của bạn, chính bạn mới là vấn đề, chừng nào mà lý trí đầy bản ngã của bạn còn khống chế bạn. Khi bạn ốm đau hay tàn tật, đừng nghĩ rằng bạn đã thất bại hoặc cảm thấy tội lỗi. Đừng trách cuộc đời này không công bằng với bạn và cũng đừng tự trách chính mình. Tất cả những điều đó chỉ là sự chống đối, không ít thì nhiều. Nếu bạn đang lâm một cơn bệnh nặng, hãy dùng nó để đưa mình đến giác ngộ. Bất cứ những gì “tồi tệ” nhất xảy ra với bạn, hãy dùng nó để đưa mình đến giác ngộ. Hãy loại trừ thời gian tâm lý ra khỏi căn bệnh của bạn. Đừng cho nó bất cứ quá khứ hay tương lai nào cả. Hãy để cho cơn bệnh đưa bạn vào trạng thái nhận thức mạnh mẽ về giây phút hiện tại – và thử xem chuyện gì sẽ xảy ra.

Hãy trở thành một nhà giả kim lão luyện(12), có thể chuyển hóa kim loại thành vàng ròng, biến khổ đau thành tỉnh thức, biến tai họa thành giác ngộ.

Bạn có đang ốm nặng và cảm thấy tức giận về những gì tôi nói không? Nếu có thì đó là dấu hiệu rõ ràng rằng bệnh tật đã trở thành một phần nhân cách của bạn, và bạn đang bảo vệ cho nhân cách, cho con người bệnh tật ấy của mình; do đó bạn cũng đang giúp cho bệnh tật ấy được tiếp diễn. Điều kiện (sinh lý và vật lý trên cơ thể bạn) mà chúng ta gọi là “bệnh” chẳng có liên quan gì đến bản chất bạn thực sự là ai.

—–

 

CHẤP NHẬN NGAY CẢ KHI TAI HỌA, HAY ĐIỀU KHÔNG MAY XẢY RA

 

Đối với đa số người thì chỉ khi có một tình huống nguy kịch quá mức giới hạn của họ, điều kiện không may đó mới có tiềm năng phá vỡ chiếc vỏ cứng của bản ngã họ, buộc họ phải chấp nhận hoàn cảnh khó khăn mà họ đang gặp phải; và hoàn cảnh này trở thành một may mắn đưa họ vào trạng thái tỉnh thức. Một tình huống nguy kịch xuất hiện khi toàn bộ thế giới trong bạn sụp đổ và bạn cảm thấy mọi thứ đều trở nên vô nghĩa như khi bạn gặp một tai họa hay biến động long trời lở đất, một mất mát quá lớn lao. Ví dụ như khi phải đối diện với cái chết, về thể xác hay tinh thần. Bản ngã trí năng, cái tạo dựng ra thế giới này, trong bạn bị sụp đổ. Từ đống tro tàn của thế giới cũ ấy, một thế giới mới được phát sinh.

Đương nhiên không có bảo đảm rằng một tình huống nguy kịch như thế sẽ làm được việc mở cánh cửa tâm linh này cho bạn; nhưng tiềm năng ấy luôn nằm sẵn ở đó. Ở một số người, sức kháng cự với hiện hữu thậm chí còn gia tăng mạnh mẽ hơn trong những tình huống khó khăn đó; đó là khi họ tự đưa mình vào địa ngục. Một số khác chỉ chấp nhận hoàn cảnh một phần nào đấy thôi, nhưng chừng ấy cũng đủ cho họ một mức độ thanh tịnh và sâu sắc mà họ chưa hề cảm nhận trước đây. Đó là lúc một phần của chiếc vỏ bản ngã của họ bị vỡ ra, tạo cơ hội cho một chút ánh sáng và yên bình chiếu rọi vào.

Những tình huống thử thách như thế đã tạo ra nhiều điều rất kỳ diệu. Có nhiều kẻ sát nhân bỗng dưng chứng được trạng thái Vô Ngã và tiếp xúc được với một niềm hoan lạc và an bình sâu sắc trong những giờ phút cuối cùng trước giờ hành quyết. Sức chống đối của họ với những tình huống khó khăn mà họ đang gặp quá mạnh đến độ tạo ra những đau khổ vượt sức chịu đựng của họ. Không còn nơi nào để ẩn núp; họ cũng không thể làm gì để thoát khỏi tình trạng ấy, dù chỉ là một hoài tưởng về tương lai để nhắm đến, vì thế họ bị buộc phải chấp nhận hoàn toàn mọi hoàn cảnh cái mà trước đó họ không thể chấp nhận được. Họ bị bắt buộc phải chấp nhận mọi hoàn cảnh của họ một cách hoàn toàn. Thế là họ có được năng lực đi vào trạng thái ân phúc, và do đó họ đã được cứu rỗi: hoàn toàn thoát ly khỏi sự khống chế của quá khứ. Dĩ nhiên là những tình huống thử thách như thế đã không tạo ra những phép lạ này, nhưng chính là do hành động hoàn toàn chấp nhận hoàn cảnh sống của họ.

Do vậy bất cứ khi nào bạn gặp phải tai ương, hay gặp phải điều gì rất “xấu” như bệnh hoạn, khuyết tật, mất mát nhà cửa, tài sản hay mất một vị thế xã hội nào đó, hoặc có sự đổ vỡ trong quan hệ cá nhân, hoặc phải đối diện nỗi khổ đau của người mà bạn yêu dấu, hoặc bạn sắp phải đối diện với cái chết… hãy luôn nhớ rằng: Cuộc đời luôn luôn còn có mặt trái của một đồng tiền, của tai ương này, hãy luôn nhớ rằng: bạn chỉ cần bước một bước nhỏ nữa thôi là bạn sẽ đạt được điều mà bạn không bao giờ có thể tưởng tượng được: Một chuyển biến từ sắt thành vàng; từ khổ đau thành an lạc. Bước đó gọi là bước chấp nhận hoàn cảnh.

Tôi không muốn nói rằng bạn sẽ cảm thấy sung sướng gì trong tình huống ấy. Bạn sẽ không sung sướng đâu. Nhưng nỗi sợ hãi và niềm đau ở trong bạn lúc ấy sẽ biến thành một cảm nhận an bình và thanh tịnh xuất phát từ một cõi rất sâu – cõi Vô Tướng. Đó chính là “sự an bình của Thượng Đế, vượt lên tất cả mọi hiểu biết” thông thường của chúng ta. So với điều đó thì cảm giác sung sướng của bạn là một điều còn khá nông cạn. Từ nỗi an bình chói lọi này, bạn nhận ra, không phải trên bình diện lý trí mà từ sâu trong Hiện Hữu của mình rằng, bạn là bất diệt, bạn không bao giờ chết cả. Đây không phải là tín điều mà là một điều tuyệt đối hiển nhiên không cần bằng chứng gì từ bên ngoài.

—–

 

 

CHUYỂN HÓA KHỔ ĐAU THÀNH AN LẠC

 

Tôi có đọc về một nhà triết học Hy Lạp cổ theo phái khắc kỷ, khi hay tin con chết vì tai nạn, đã trả lời: “Tôi biết, nó không thể sống đời với tôi mãi được”. Như vậy có phải là chấp nhận hoàn cảnh không? Nếu đúng như thế thì tôi hoàn toàn không muốn dính dáng gì đến lối sống này. Trong nhiều trường hợp, chấp nhận hoàn cảnh dường như có gì rất trái tự nhiên và thiếu nhân tính.

Cắt bỏ cảm xúc của mình như vậy không phải là chấp nhận hoàn cảnh. Nhưng vấn đề là chúng ta không biết trong thâm tâm ông ấy nghĩ gì khi nói ra điều ấy. Trong vài trường hợp đặc biệt, rất khó cho bạn để có thể chấp nhận phút giây hiện tại nhưng bạn luôn luôn có cơ hội thứ hai qua việc chấp nhận hoàn cảnh.

Cơ hội thứ nhất là chấp nhận vô điều kiện mỗi phút giây đối với những gì đang xảy ra trong phút giây đó. Bạn nhận thức rõ rằng bạn không thể thay đổi những gì đang có mặt – vì nó đã là như vậy – trái lại, bạn sẽ đồng tình, xuôi thuận với những gì đang có mặt hay chấp nhận những gì đang không như lòng bạn mong muốn. Rồi bạn làm bất cứ điều gì bạn có thể làm khi tình huống đó đòi hỏi. Nếu bạn an trú được trong tình trạng chấp nhận hiện hữu này, bạn sẽ không tạo thêm tiêu cực, khổ đau và bất hạnh.  Bạn sẽ sống trong trạng thái bất phản kháng, trạng thái ân sủng và nhẹ nhàng, không có tranh chấp.

Bất kỳ lúc nào bạn không làm được vậy, bất kỳ lúc nào bạn bỏ lỡ cơ hội đó – hoặc vì bạn không tạo ra được sự hiện diện đầy ý thức để có thể chế ngự những mô thức phản kháng đầy tính chất thiếu hiểu biết, những năng lượng mạnh mẽ của thói quen lâu đời ở trong bạn hay vì hoàn cảnh sống của bạn đã trở nên quá cực đoan, khắc nghiệt đến mức bạn không thể nào chấp nhận được tình trạng ấy – lúc đó, bạn sẽ cảm được có một nỗi đớn đau, khổ sở nào đó. Và bạn sẽ nghĩ rằng hoàn cảnh ấy đã tạo ra khổ đau cho bạn. Nhưng kỳ thực chính sự phản kháng của bạn là nguyên nhân đã tạo ra khổ đau ấy.

Đó chính là cơ hội thứ hai để cho bạn chấp nhận hoàn cảnh. Nếu bạn không thể chấp nhận được những gì đang xảy ra ở bên ngoài, thì hãy chấp nhận những gì đang có mặt ở bên trong. Nếu bạn không thể chấp nhận những điều kiện sống ở bên ngoài, thì hãy chấp nhận những điều kiện tâm lý có mặt ở bên trong bạn. Tức là: Nếu đang cảm thấy đau khổ trong lòng thì hãy thôi cưỡng lại nỗi đau ấy. Hãy để cho nỗi đau có mặt ở đó. Hãy chấp nhận nỗi mất mát, thất vọng, sợ sệt, cô đơn,… hay bất cứ cảm giác khổ đau nào đang có mặt ở trong bạn. Hãy chứng kiến nỗi đau ấy trong yên lặng mà không nên nghĩ ngợi, hay nói xấu gì nó cả. Hãy ôm ấp niềm đau đó. Bạn sẽ thấy ngay điều kỳ diệu của việc thực tập chấp nhận vô điều kiện những cảm xúc đang có ở trong mình, thực tập ấy sẽ chuyển hóa nỗi khổ đau của bạn trở thành sự an bình sâu sắc. Đây là cây thập tự giá của bạn. Hãy để điều đó giúp bạn từ cõi chết sống lại và thăng hoa.

Tôi không thể hiểu được làm sao người ta có thể chấp nhận vô điều kiện nỗi khổ đau của mình. Như tự ông đã chỉ ra, chúng ta khổ đau là vì không biết chấp nhận hoàn cảnh. Làm thế nào để chấp nhận cái không-thể-chấp-nhận của mình?

Chúng ta hãy tạm gác qua việc thực tập chấp nhận vô điều kiện trong giây lát. Khi nỗi đau của bạn quá lớn thì chuyện nói đến thực tập chấp nhận vô điều kiện có vẻ không có kết quả gì mà nhiều khi còn trở nên vô nghĩa. Khi nỗi đau trong bạn quá lớn thì bạn sẽ có khuynh hướng là làm sao để thoát ra khỏi nỗi đau đó hơn là chấp nhận nó một cách vô điều kiện. Bạn sẽ không bao giờ muốn cảm nhận những gì bạn đang cảm nhận. Đó là một chuyện rất tự nhiên. Nhưng thực ra bạn không có lối thoát; không có cách nào bạn tránh né được niềm đau của mình. Có người đã dùng những cách chạy trốn giả tạm như: vùi đầu vào công việc, rượu chè, nghiện ngập be bét, hay trở nên giận dữ, hoặc không công nhận nỗi khổ của mình, đổ lỗi cho kẻ khác, hoặc ức chế niềm đau của mình… Tất cả những cách chạy trốn ấy đều không thể giúp bạn thoát ra khỏi niềm đau. Nỗi đau trong bạn sẽ không hề giảm cường độ khi bạn cố quên nó. Ngược lại, khi bạn khước từ niềm đau của bạn thì mọi thứ bạn làm, bạn nghĩ, và cả những mối quan hệ cá nhân của bạn… tất cả đều bị niềm đau ấy làm ô nhiễm. Có thể nói là khi bạn chối bỏ nỗi khổ của mình, bạn sẽ truyền niềm đau ấy đi dưới dạng một cơn sóng năng lượng, và người khác sẽ cảm nhận, dù họ không ý thức, luồng sóng tình cảm ấy. Nếu họ cũng mê mờ như bạn, họ có thể bị thôi thúc phải công kích hay gây tổn thương cho bạn theo một cách nào đó, hay có thể bạn sẽ làm tổn thương họ qua sự phóng chiếu, bộc phát nỗi đau của mình một cách thiếu hiểu biết. Lúc đó bạn sẽ hấp dẫn và thể hiện(13) trong đời sống của bạn những gì tương ứng với trạng thái nội tâm bất ổn của bạn.

Khi không thể trốn tránh được khổ đau, bạn hãy tìm một lối mòn đi xuyên qua những khổ đau của mình. Đừng quay mặt với nỗi đau. Hãy đối diện nó. Hãy cảm nhận niềm đau một cách đầy đủ và toàn vẹn. Hãy cảm nhận thôi mà đừng suy nghĩ gì cả. Nếu cần thiết thì hãy bày tỏ niềm đau của mình(14) nhưng đừng nên vẽ vời gì về nó cả. Hãy hướng tất cả sự chú tâm của bạn vào việc cảm nhận nỗi khổ thôi, mà đừng để ý đến cái người liên hệ, sự việc hay tình huống đã gây ra nỗi khổ trong bạn. Đừng để trí năng bạn dùng nỗi đau này để thêu dệt nên một căn cước, một hình ảnh, một nạn nhân(15) cho chính bạn. Khi nào bạn còn cảm thấy tự tội nghiệp, thương hại mình và thích đi kể lể với người khác về chuyện này thì bạn chỉ làm cho mình vướng sâu hơn vào khổ đau. Vì chúng ta không thể thoát ly khỏi những cảm xúc của mình, điều duy nhất có thể tạo ra sự chuyển hóa là phải đi vào trong những cảm xúc đó, còn không, sẽ không có sự thay đổi thực sự. Do đó bạn hãy chú tâm sâu sắc đến những gì bạn đang cảm nhận, tránh không thêu dệt gì cả. Khi bạn đi sâu vào những cảm xúc của mình, bạn hãy thật tỉnh táo. Thoạt đầu, nó giống như bạn đang đi vào một nơi rất tối tăm và kinh khiếp. Nhiều khi trong bạn sẽ nổi lên một cảm giác thôi thúc chỉ chực muốn trốn tránh, thoát thân,… thì bạn hãy quan sát và nhận biết là mình đang có một ý tưởng muốn trốn chạy những cảm xúc này nhưng bạn đừng làm gì cả theo sự thôi thúc đó. Hãy tiếp tục chú tâm vào nỗi đau ở trong mình. Hãy cảm nhận những cảm xúc buồn khổ, sợ hãi và cô đơn, hay bất cứ cảm xúc gì đang hiện diện. Hãy rất tỉnh táo, và có mặt với nỗi đau, hãy có mặt với toàn bộ sự Hiện Hữu của con người bạn, với mỗi tế bào ở trong cơ thể bạn. Khi bạn làm được như thế, bạn sẽ mang một luồng ánh sáng vào chốn tối tăm này. Đây là ngọn lửa của ý thức sẽ soi sáng và xoa dịu những niềm đau ở trong bạn(16).

Ở vào giai đoạn này, bạn không cần quan tâm tới thực tập chấp nhận hoàn toàn nỗi khổ ở trong bạn nữa, vì điều đó đã xảy ra rồi. Bằng cách nào vậy? Bằng sự để hết tâm ý một cách hoàn toàn của bạn vào nỗi khổ trong lòng mình như bạn đã làm. Đó chính là chấp nhận vô điều kiện; đó là chấp nhận hoàn toàn. Bằng sự chú tâm toàn diện ấy, bạn đã dùng năng lượng của phút giây hiện tại – tức là năng lượng của sự Hiện Diện đầy ý thức, năng lượng của sự Có Mặt toàn vẹn của chính bạn. Không có một chút dấu vết của sự kháng cự nào có thể sót lại ở trong trạng thái hiện diện tích cực đó của bạn. Sự Có Mặt đầy ý thức của bạn loại trừ quá khứ và tương lai. Khi trong bạn không còn sự hiện diện của Quá Khứ và Tương Lai thì không có nỗi đau, sự tiêu cực nào có thể tồn tại được.

Chấp nhận nỗi khổ ở trong bạn là cuộc hành trình đi vào cõi chết. Bạn đối diện với niềm đau sâu kín, bạn cho phép cơn đau được cảm nhận và đặt hết tất cả sự chú tâm của bạn vào nỗi đau,… tất cả những hành động ấy là vì bạn muốn cho phép mình đi vào cõi chết một cách có ý thức. Khi bạn chết như thế này, bạn thấy rằng thực ra bạn không chết và bạn không có gì phải sợ hãi cả. Cái thực sự chết đi chỉ là bản ngã của bạn thôi.  Hãy tưởng tượng một tia sáng quên mất nó là một phần không thể tách rời của mặt trời rực rỡ kia, và nó tự mình tạo nên ảo giác sai lầm khi tin rằng tia sáng đó phải đấu tranh để tồn tại, và tạo ra rồi bám víu vào một căn cước, cá tính giả tạo nào khác mà không phải là mặt trời(17). Lẽ nào cái chết của sự lừa dối này(18) không mang đến cho bạn một sự giải thoát phi thường?

Bạn có muốn một cái chết dễ dàng – một cái chết không có những đớn đau, thống khổ? Vậy thì bạn hãy để quá khứ ở trong bạn chết đi mỗi phút, mỗi giây, và hãy để cho ánh sáng của Sự Có Mặt của bạn xua tan đi cái tôi, bản ngã nặng nề, luôn bị trói buộc bởi Quá Khứ và Tương Lai mà bạn cứ hay lầm tưởng đấy chính là “bạn”.

—–

 

GIÁC NGỘ QUA KHỔ ĐAU CÙNG CỰC

 

Có nhiều người nói rằng qua khổ đau sâu sắc, họ đã tìm được Thượng Đế. Và tôi nghĩ, “Con Đường Thập Tự Giá” mà người Cơ đốc thường nói chính là đề cập đến vấn đề này?

Vâng. Ở đây chúng ta cũng chỉ quan tâm đến cùng một vấn đề. Chính xác mà nói, những người đó đã không tìm thấy Thượng Đế bằng khổ đau, vì khổ đau bao hàm sự chống đối. Họ chỉ tìm thấy Thượng Đế khi đã chấp nhận khổ đau và những gì đang hiện hữu một cách hoàn toàn. Do khổ đau đến cùng cực, họ bị buộc phải chấp nhận tất cả mọi chuyện một cách vô điều kiện. Hẳn họ đã nhận thức được, ở một cấp độ nào đó, rằng khổ đau của họ phần lớn là do chính họ đã tạo ra.

Ông so sánh như thế nào giữa việc chấp nhận vô điều kiện với việc tìm ra Thượng Đế?

Vì sự chống đối cũng chính là lý trí nên khi bạn từ bỏ sự chống đối thì đó cũng là lúc trí năng buộc phải cáo chung sự thống trị như là một chủ nhân ông của bạn, là một người giả danh là “bạn”, là Thượng Đế giả hiệu. Tất cả những phán xét và tiêu cực sẽ bị tiêu tan. Vương quốc của Hiện Hữu ở trong bạn đã từng bị che mờ bởi lý trí nay rộng mở. Bất chợt bấy giờ ở trong bạn  có một sự tĩnh lặng lớn lao, một cảm giác yên bình sâu sắc vô cùng. Và trong trạng thái yên bình đó có niềm vui. Trong niềm vui đó có Lòng Bao Dung. Và trong chỗ sâu lắng nhất đó, có một cái gì đó rất thiêng liêng, không thể đo lường được: Cái-không-thể-đặt-tên.

Tôi không cho đó là tìm ra Thượng Đế vì làm sao bạn có thể tìm ra cái không hề bị mất, cái là sự sống của chính bạn? Danh từ Thượng Đế đã bị giới hạn rất nhiều, không chỉ vì nó đã bị lạm dụng và hiểu sai qua nhiều thế kỷ, mà còn vì danh từ đó ám chỉ rằng đó là một thực thể khác, không phải là bạn. Thượng Đế chính là tự thân của Hiện Hữu, mà không phải là một thực thể riêng biệt. Không thể có quan hệ chủ thể – khách thể ở đây, không có đối cực nhị nguyên, không có ta và Thượng Đế. Do đó nhận thức rằng bạn đã là một với Thượng Đế là một điều rất tự nhiên.

Điều đáng kinh ngạc và không thể hiểu được ở đây không phải là bạn nhận thức được Thượng Đế, mà là bạn không nhận thức được Thượng Đế. Con đường Thập giá tôi vừa đề cập ở trên là một con đường cũ để đạt đến giác ngộ, và đó đã từng là con đường duy nhất, mãi cho đến thời gian gần đây. Nhưng xin đừng bài bác hay coi nhẹ con đường đó. Vì nó vẫn còn hiệu quả đối với một số người.

Con đường Thập giá là con đường biến mọi chuyện xảy ra cho bạn thành một điều hoàn toàn xoay chiều ngược lại. Có nghĩa là khi bạn gặp phải một tình huống tai hại, tồi tệ nhất trong cuộc đời của bạn, là cây thập tự giá, thì điều đó sẽ hóa thành một điều tốt lành nhất trong đời bạn, vì tình huống đó buộc bạn phải đầu hàng, chấp nhận tình huống ấy một cách vô điều kiện, nó buộc bạn phải đi vào cõi “chết”, buộc bạn trở thành như Rỗng Lặng, trở thành Thượng Đế vì Thượng Đế cũng chính là Tánh Không.

Trong thời đại này, với tình trạng hầu hết con người vẫn còn rất mê lầm, thì con đường Thập tự giá vẫn còn là con đường duy nhất đối với họ. Họ sẽ tỉnh thức khi gặp thêm rất nhiều khổ đau và điều đó có thể thấy trước được là sau những thăng trầm rất lớn lao đó thì mới có sự giác ngộ như là một hiện tượng tập thể. Quá trình này phản ảnh tác động của những quy luật vũ trụ nào đó chi phối sự phát triển của tâm thức nhân loại và vì thế có thể thấy trước được bởi một số nhà tiên tri. Điều này được nêu lên trong cuốn Sáng Thế Ký hay sách Khải Huyền, hay những kinh điển của nhiều tôn giáo khác. Nhưng điều này thường bị che phủ một cách mơ hồ và thỉnh thoảng còn được hình tượng hóa một cách rất khó hiểu. Nhưng nỗi khổ đau của chúng ta không phải do Thượng Đế, hay người nào khác gây ra, mà chính là do con người chúng ta tự gây ra cho chính mình. Và có thể địa cầu của chúng ta, với tư cách là một thực thể sống động và thông minh, nó sẽ thực hiện những biện pháp quyết liệt để tự bảo vệ khỏi bị xâm hại, và tàn phá bởi sự điên loạn của con người.

Tuy nhiên ngày nay, càng ngày càng có nhiều người tâm thức đã tiến hóa đến một mức độ cao, họ có thể đạt đến sự tỉnh thức lớn mà không cần phải tạo thêm khổ đau cho chính họ. Có thể bạn là một trong số những người đó.

Giác ngộ qua khổ đau – Con Đường Thập Tự Giá – có nghĩa là bạn bị buộc phải lên Thiên Đàng trong cách vừa đi vừa vùng vẫy, gào thét. Cuối cùng bạn cũng buộc phải chấp nhận hoàn toàn vì bạn không thể chịu đựng thêm được khổ đau, nhưng nỗi đau vẫn còn tiếp tục kéo dài rất lâu trước khi bạn đạt đến giác ngộ. Sự Giác ngộ được lựa chọn một cách tỉnh táo có nghĩa là bạn từ khước mọi ràng buộc với quá khứ và tương lai, mà chỉ xem phút giây hiện tại là mục tiêu chính của cuộc đời bạn. Bạn chọn để an trú trong phút giây hiện tại hơn là chạy đuổi theo tương lai. Điều đó có nghĩa là bạn sẽ xuôi thuận theo những gì đang xảy ra trong đời bạn. Và bạn không cần kinh nghiệm thêm phút giây đau đớn nào nữa. Thế thì bạn cho rằng bạn cần thêm bao nhiêu thời gian nữa để có thể nói rằng: “Tôi khổ đủ rồi, tôi sẽ không tạo thêm khổ đau cho chính mình nữa”? Bạn cần kinh nghiệm thêm bao nhiêu đau đớn nữa trước khi bạn có thể chọn lựa cho mình một con đường sáng suốt?

Nếu bạn nghĩ là bạn cần thêm thời gian, bạn sẽ có thêm thời gian – và cũng có thêm đau khổ nữa. Thời gian và đau khổ là hai thứ không thể tách rời nhau.

—–

 

KHẢ NĂNG CHỌN LỰA

 

Còn đối với những người dường như muốn khổ đau thì sao? Tôi biết một phụ nữ, cô ấy thường bị bạn trai bạo hành và những mối quan hệ trước đây của cô cũng tương tự như thế. Tại sao cô ấy hay quan hệ với những người đàn ông như thế? Sao cô không chịu thoát ra khỏi tình trạng đó? Tại sao con người lại chọn khổ đau?

Tôi biết “chọn lựa’ là một từ của thời đại mới, nó không hoàn toàn chính xác trong hoàn cảnh này. Khi nói rằng ai đó “chọn” một quan hệ trái chiều hay bất cứ tình huống tiêu cực nào khác trong đời họ là ta có thể gây hiểu lầm. Vì chọn lựa có nghĩa là nhận thức, là cấp độ rất cao của nhận thức. Không có nhận thức thì không có chọn lựa. Chọn lựa bắt đầu khi bạn cách ly mình ra khỏi sự kềm tỏa của lý trí và những mô thức bó buộc của nó. Chọn lựa chỉ bắt đầu khi bạn biết sống một cách an nhiên tự tại. Trước khi bạn có thể đạt đến trạng thái đó, bạn vẫn còn mê lầm. Có nghĩa là bạn vẫn còn buộc phải suy tưởng, cảm nhận, hành động theo một khuôn cách nào đó phù hợp với điều kiện của lý trí. Chúa Jesus từng nói: “Xin Cha hãy tha thứ cho họ, vì họ không biết họ đang làm gì”. Điều này không liên quan đến sự thông minh theo nghĩa thường tình của nó. Tôi gặp nhiều người rất thông minh và có giáo dục nhưng hoàn toàn rất mê mờ, tức là hoàn toàn đồng nhất họ với những suy nghĩ hay lo lắng của họ. Thực ra, nếu sự phát triển về mặt trí năng và kiến thức không cân xứng với một mức độ tỉnh thức và phát triển tâm linh tương ứng thì sự phát triển phiến diện đó có tiềm năng trở thành một tai họa và bất hạnh rất lớn.

Người phụ nữ bạn của anh bị người bạn trai chị ấy bạo hành và đó không phải là lần duy nhất, vì sao? Đây không phải là một chọn lựa của chị ấy. Tâm thức(19) của chị ấy, bị điều kiện hóa bởi quá khứ, đã luôn tìm cách tái tạo lại những hoàn cảnh quen thuộc, những tình huống chị đã từng trải qua. Ngay cả khi điều đó có thể gây nên cho chị nhiều đớn đau, thì ít ra thì đối với chị, đó cũng là một điều rất quen thuộc. Trí năng của ta luôn bám víu vào những cái nó đã biết. Nó luôn muốn kiểm soát tình thế nên cảm thấy rất nguy hiểm trước những cái nó chưa biết vì đó là điều nó không kiểm soát được.

Đó là lý do tại sao lý trí không thích và hay khước từ phút giây hiện tại. Vì nhận thức về giây phút hiện tại sẽ tạo ra một khe hở, không những trong dòng suy tư, mà còn cả trong chuỗi quá khứ – tương lai. Không một cái gì thực sự mới mẻ và sáng tạo có thể đi vào thế giới này mà không đi qua khe hở đó, phút giây hiện tại – một lỗ hổng rất khoáng đạt cho sự biểu hiện của những khả năng bất tận.

Có thể người phụ nữ bạn của anh bị đồng nhất mình với lý trí nên cô đang lặp lại một vết xe cũ, một khuôn mẫu cư xử(20) sai lầm mà cô đã học được trong quá khứ: đó là trong mối quan hệ với một người đàn ông, sự luyến ái và bạo hành là hai lối cư xử được cô ấy thừa nhận một cách vô ý thức. Hay cô ấy có thể đang cố tái tạo lại một mô hình cũ trong tâm thức mà cô đã học được từ thời bé và trong đó, cô luôn cảm thấy rằng mình không xứng đáng được yêu thương(21) và luôn cảm thấy mình rất đáng bị trừng phạt(22).

Cũng có thể là phần lớn cuộc đời cô luôn đắm chìm trong một khối khổ đau dày đặc của quá khứ, nên cô luôn cần tạo thêm khổ đau(23) để làm thức ăn nuôi dưỡng khối khổ đau ấy được sống mãi. Người bạn trai của cô cũng có một khối khổ đau của anh ta, có một lối sống và cư xử rất mê mờ của mình. Nhưng sự mê lầm và khổ đau của cả hai lại rất tương ứng và bổ sung cho nhau. Dĩ nhiên hoàn cảnh khốn đốn của cô ấy chính là do cô ấy đã tạo ra, nhưng cái gì trong đời cô là nguyên nhân đã tạo ra hoàn cảnh khốn đốn đó? Tôi thấy nguyên nhân chính là vì một khuôn mẫu cư xử tình cảm rất bó buộc và thiếu hiểu biết, một thói quen hành xử rất tiêu cực và đầy chịu đựng của cô ta trong quá khứ. Nếu ta là một người như thế thì ta đã đủ khổ thân rồi. Tại sao ta, vì không ý thức, lại tạo ra thêm “một nhân diện, một cái tôi chịu đau khổ” giả tạo nữa để làm gì? Nếu bạn bảo rằng cô ta đã chọn lựa hoàn cảnh đó thì bạn càng khuyến khích cho cô ấy củng cố thêm sự đồng nhất bản thân cô ta với lý trí của cô.

Nhưng cô ấy đâu phải chỉ là một khuôn mẫu hành xử gò bó, mô thức của trí năng cô? Đó có phải là cô ấy không? Cô ta đâu thể tìm ra con người đích thực của cô từ những gì đã xảy ra trong quá khứ? Hãy chỉ cho cô bạn của anh học cách trở thành một chứng nhân im lặng, quan sát hiện hữu và quan sát dòng suy tư và cảm xúc liên miên ở trong cô. Hãy giúp cho cô biết về sự có mặt của khối khổ đau lớn ở trong cô và cách cô có thể thoát ly nó. Hãy chỉ cho cô nghệ thuật nhận thức, quan sát nội tâm mình trong tĩnh lặng. Hãy minh họa cho cô ý nghĩa của sự Hiện Hữu. Sau khi cô có thể tiếp xúc với năng lực của phút giây hiện tại, cô ta có thể đoạn tuyệt với quá khứ, cô sẽ có khả năng chọn lựa cho mình.

Không ai muốn chọn cho mình sự băng hoại, xung đột, và đớn đau. Không ai lại đi chọn sự cuồng điên. Chúng xảy ra vì bạn không có đủ sự hiện diện rất ung dung nhưng đầy ý thức ở trong bạn để hóa giải quá khứ. Chúng xảy ra vì bạn không đủ ánh sáng của ý thức để xua đi bóng đêm của mê mờ. Thông thường bạn không hoàn toàn có mặt. Thông thường bạn chưa tỉnh thức hoàn toàn. Hiện thời, bạn hay để cho lý trí định đoạt và điều khiển cuộc đời của bạn.

Tương tự như thế, nếu bạn là một trong số đông người vẫn còn vấn đề với bố mẹ, nếu bạn vẫn còn nuôi trong lòng nỗi oán hận về những gì cha, mẹ của bạn đã làm hay không làm cho bạn, tức là bạn vẫn còn tin rằng cha mẹ mình đã có sự chọn lựa, rằng lẽ ra họ có thể hành động khác đi… Thường thì mỗi người chúng ta luôn có quyền chọn lựa, nhưng đó chỉ là một ảo tưởng. Khi nào lý trí của bạn với những mô thức bó buộc, và ước định nghiêm khắc của nó còn điều khiển bạn, khi nào bạn vẫn còn bị sai sử bởi trí năng của bạn, thì bạn làm gì có sự chọn lựa? Không bao giờ. Bạn đã không có mặt, không hiện diện ở đó nữa kia mà! Tình trạng đồng nhất mình với lý trí là một tình trạng băng hoại rất nghiêm trọng. Đó là sự biểu hiện của sự điên rồ. Hầu hết mọi người đều chịu chứng bệnh điên rồ này ở nhiều mức độ khác nhau. Khi bạn nhận chân được điều này, bạn sẽ không còn cảm thấy oán hận cha, mẹ mình nữa. Làm sao mà chúng ta có thể bất mãn, oán hận một người đang mắc bệnh? Phản ứng thích hợp nhất chỉ có thể là lòng xót thương.

Như thế có nghĩa là không ai chịu trách nhiệm cho những việc làm của mình? Tôi không đồng ý.

Nếu bạn đang bị lý trí điều khiển, mặc dầu bạn không có sự chọn lựa ở đây, nhưng bạn vẫn phải gánh chịu hậu quả của sự mê mờ của mình, và bạn sẽ tạo thêm khổ đau cho mình nữa. Bạn sẽ gánh chịu sợ hãi, xung khắc, rắc rối và đớn đau. Nhưng nhờ gánh chịu khổ đau như thế thì cuối cùng nỗi khổ ấy mới đưa bạn ra khỏi mê lầm.

Những gì ông nói về sự chọn lựa cũng áp dụng cho lòng tha thứ, đúng không? Chúng ta cần phải khá tỉnh thức và chấp nhận hoàn cảnh sống của chúng ta một cách vô điều kiện trước khi chúng ta có thể khoan dung.

“Tha thứ” là từ được dùng hai ngàn năm nay nhưng hầu hết chúng ta đều có một cái nhìn rất hạn chế về ý nghĩa của từ này. Bạn không thực sự khoan dung với chính mình hay với người khác khi mà bạn vẫn còn mong tìm một căn cước, một cái tôi từ quá khứ. Chỉ qua sự tiếp cận năng lực của phút giây hiện tại, cũng chính là năng lực của chính bạn, bạn mới thực sự có lòng khoan dung. Điều này làm cho Quá Khứ trở nên không đáng kể và bạn nhận thức sâu sắc rằng những gì bạn đã làm hay người khác đã làm trong quá khứ, những thứ đó không thể động đến cái bản chất sáng ngời của bản thể bạn. Lúc đó toàn bộ khái niệm về lòng khoan dung sẽ trở nên không còn cần thiết nữa.

Làm sao tôi có thể đạt đến nhận thức đó?

Khi bạn có sự chấp nhận hoàn cảnh sống của bạn một cách vô điều kiện và vì vậy bạn sẽ có mặt một cách hoàn toàn. Quá khứ sẽ không còn uy lực đối với bạn. Bạn sẽ không cần nó nữa. Hiện Hữu trở thành chính yếu. Phút giây hiện tại là chính yếu.

Làm sao tôi biết là mình đã chấp nhận một cách hoàn toàn?

Đó là khi bạn không còn hỏi câu hỏi đó nữa.

—–

Chú thích

  1. Chấp nhận những gì đang xảy ra: Thường khi có chuyện gì xảy ra, chúng ta thường có khuynh hướng không chấp nhận rằng chuyện ấy đã hoặc đang xảy ra, như thể chúng ta có năng lực không cho chuyện ấy xảy ra. Không ít thì nhiều, chúng ta có sự chống đối ở trong lòng. Chúng ta bất mãn và khổ sở với sự chống đối nó như thể sự việc ấy chưa xảy ra. Thực ra thì những gì mà ta đang chống đối đã xảy ra rồi.
  2. Nương theo hơn là đi ngược lại dòng chảy của đời sống: Trong võ thuật, như nhu đạo, người võ sĩ không chống lại sức mạnh của đối thủ mình. Ngược lại, người ấy không dùng sức mạnh của mình, mà chỉ nương theo sức mạnh của đối phương và dùng sức mạnh có sẵn ấy để đánh ngã đối thủ.
  3. Phút giây hiện tại là phút giây duy nhất có thực trong đời sống. Vì đời sống chỉ có một phút giây liên tục xảy ra: phút giây hiện tại. Cái mà ta gọi là Quá Khứ chính là những phút giây hiện tại đã qua. Và Tương Lai cũng chỉ là những phút giây hiện tại sắp tới. Cho nên, nếu ta đánh mất phút giây hiện tại là chúng ta đánh mất tất cả.
  4. Lý trí: Là danh từ nói chung về tất cả những suy tính thiệt hơn, lợi hại cho bản thân mình ở trong đầu ta của tự ngã (ấn tượng sai lầm, cái tôi biệt lập ở trong mình) hay những cảm giác lo lắng, sợ hãi, bất an thường trực ở trong lòng mình. Chúng ta xét đoán sự việc từ chỗ suy tính, phân biệt hoặc lo sợ,… sai lầm này cho nên chúng ta ít khi có được một cái nhìn đúng đắn về những gì đang xảy ra.
  5. Ung dung tự tại hay an nhiên tự tại: Là tư thái sống an nhàn, thanh thoát trong sự có mặt trầm tĩnh, sáng suốt và toàn vẹn với những gì đang xảy ra chung quanh mình.
  6. Phản ứng có tính chất rập khuôn, đầy quán tính: Trong mỗi người chúng ta có một thói quen phản ứng được tự động hóa, mà ta không thể làm khác đi được khi sự phản ứng đó bị kích thích. Ví dụ khi có ai đó làm một chuyện gì phật ý ta, tự nhiên ta trở nên nóng giận không thể kềm lại được. Lúc đó thói quen hành xử một cách tự động khi phản ứng đã bị kích thích sẽ được thi hành. Chúng ta trở nên cư xử rất lỗ mãng trong cách nói năng, ứng xử. Hãy tưởng tượng bạn phản ứng rập khuôn như một chiếc máy bán nước ngọt, chỉ cần bỏ vào 50 xu thì sẽ bấm ngay được một lon nước. Trong trường hợp này, chỉ cần chọc cho bạn giận là trăm lần như một, bạn sẽ phản ứng với sự giận dữ cao độ, bạn sẽ lỗ mãng trong lời ăn, tiếng nói y hệt như những lần đ&atil

CHƯƠNG IX: CÓ MỘT NIỀM AN BÌNH NỘI TẠI VƯỢT LÊN TRÊN HẠNH PHÚC VÀ NHỮNG BẤT HẠNH

Có gì khác nhau giữa hạnh phúc và niềm an bình nội tại không?

Khác chứ. Vì hạnh phúc của chúng ta phụ thuộc vào rất nhiều những điều kiện bên ngoài mà ta cho là tích cực; ngược lại, niềm an bình ở nội tâm thì không phụ thuộc điều kiện nào cả.

Chúng ta có thể nào thu hút những điều kiện tích cực nào trong đời sống của chúng ta? Nếu suy nghĩ và thái độ của chúng ta luôn luôn tích cực thì ta sẽ chỉ thể hiện những sự kiện và tình huống tích cực, đúng không?

Bạn có thực sự biết cái gì là tích cực, và cái gì là tiêu cực không? Bạn có hình dung ra được bức tranh tổng thể không? Đối với nhiều người thì những hạn chế, thất bại, mất mát, ốm đau hay khổ sở hóa ra lại là người thầy vĩ đại nhất của họ. Những khổ đau đó dạy cho họ buông bỏ những cái nhìn sai lầm về bản thân, bỏ đi những mục tiêu và ham muốn phù phiếm do bản ngã thêu dệt nên. Nỗi khổ đó cho họ một chiều sâu, đức tính khiêm nhường và lòng trắc ẩn. Những khó khăn đó làm cho họ sống “thực” hơn.

Khi nào một chuyện gì tiêu cực xảy ra cho bạn, thì trong đó luôn ẩn giấu một bài học sâu xa, dù rằng lúc đó bạn có thể vẫn chưa nhận ra. Ngay cả một cơn đau ngắn ngủi hay một tai nạn cũng có thể cho bạn biết những gì là thật và không thật trong đời mình, những gì rốt cuộc là có giá trị, và những gì là không.

Nhìn ở một góc độ cao hơn, những hoàn cảnh sống của bạn luôn luôn “là” tích cực. Nhưng nói một cách chính xác hơn: Chúng không tiêu cực cũng không tích cực. Những hoàn cảnh sống chỉ là những gì được thể hiện ra. Và khi bạn sống trong trạng thái hoàn toàn chấp nhận những gì đang hiện hữu, một lối sống sáng suốt duy nhất, thì đời sống của bạn sẽ không còn “tốt” hay “xấu” nữa. Chỉ có một mục đích cao cả, tức là bao gồm luôn cả cái “xấu”. Tuy nhiên, khi bạn nhìn từ góc độ của lý trí thì vẫn còn có tốt/xấu, thích/không thích, yêu/ghét. Vì lẽ đó, trong cuốn “Book of Genesis” (Sáng Thế Ký) của đạo Ki-tô(1) đã nói rằng Adam và Eva không còn được phép sống ở “thiên đàng” nữa sau khi họ “ăn phải cây tri thức, phân biệt về những điều tốt và xấu”(2).

Tôi cảm thấy điều này có vẻ như chúng ta đang muốn phủ nhận và tự dối mình. Vì khi có một chuyện gì kinh khiếp xảy ra cho tôi hoặc cho những người thân của tôi như tai nạn, bệnh tật, đau đớn hay chết chóc, tôi có thể giả vờ cho là nó không xấu, nhưng sự thật là nó xấu; tại sao tôi phải phủ nhận điều đó?

Bạn không giả vờ gì cả. Bạn cứ cho phép để chuyện ấy được như tự nó vốn là vậy, thế thôi. Thực tập “để cho mọi chuyện được tự nhiên như nó đang là” đưa bạn ra khỏi lý trí cùng những mô thức chống đối của nó – nguyên nhân tạo ra những đối cực: tốt/xấu,… Đây là khía cạnh căn bản của lòng khoan dung. Lòng khoan dung với những gì đang xảy ra ở phút giây hiện tại còn quan trọng hơn là lòng khoan dung cho những gì đã xảy ra trong quá khứ. Nếu bạn có lòng khoan dung trong mỗi phút giây – tức là cho phép mọi chuyện được diễn ra như nó cần được diễn ra, thì bạn sẽ không có sự tích tụ của niềm oán hờn mà sau này phải cần được buông bỏ.

Ví dụ như khi bạn có một người thân vừa mới mất, hay cái chết sắp đến với bạn, bạn đâu có cảm thấy vui gì. Không bao giờ. Nhưng bạn vẫn “có thể” có được niềm an bình. Có thể có nước mắt và nỗi buồn, nhưng miễn là bạn từ bỏ sự chống đối ở bên trong, thì bên dưới nỗi buồn, bạn sẽ cảm thấy một niềm trầm lắng sâu sắc, tĩnh lặng, một sự có mặt thiêng liêng. Đây là sự chói sáng của an nhiên tự tại, đây là niềm an bình ở nội tâm, cái tốt không có sự đối nghịch.

Vậy nếu đó là một tình huống mà tôi có thể làm một điều gì đó? Làm thế nào mà tôi vừa cho phép để tự tình huống đó xảy ra và cùng lúc làm thay đổi nó?

Bạn làm hết những gì cần phải làm. Nhưng đồng thời chấp nhận những gì đang hiện diện. Vì lý trí và sự chống đối cũng là một thứ, nên khi trong bạn đã có sự chấp nhận, điều này ngay lập tức sẽ đưa bạn ra khỏi sự chi phối của lý trí và giúp bạn tiếp xúc được với Hiện Hữu. Kết quả là những động cơ để “làm” một cái gì đó của bản ngã ở trong bạn như là sự sợ hãi, tham lam, kiểm soát, chống chế hay nuôi nấng cảm nhận sai lầm về bản ngã sẽ bị mất tác dụng. Một sự sáng suốt cao hơn cả lý trí bây giờ đang điều hành mọi thứ ở trong bạn và vì vậy một nhận thức có chất lượng khác luân chuyển vào trong tất cả những việc bạn làm.

Hai ngàn năm trước, Marcus Aurelius, một trong những con người có được sự thông thái và từng trải việc đời hiếm có đã viết: “Hãy chấp nhận những gì đang xảy đến cho bạn,hãy để cho thực tập này đan quyện vào tất cả những mục tiêu của đời bạn, vì còn gì thích ứng hơn chuyện này nữa?.

Dường như hầu hết mọi người cần phải trải qua nhiều khổ đau trước khi họ thôi chống đối và bắt đầu chấp nhận, tức là trước khi họ mở lòng bao dung. Khi họ làm được như vậy, thì một trong những điều kỳ diệu nhất sẽ xảy ra: sự tỉnh thức của nhận thức về Hiện Hữu được phát sinh từ những gì được xem là điều ác, sự chuyển hóa khổ đau thành niềm an bình nội tại. Tác động cuối cùng của tất cả ác nghiệp và đau khổ trên thế giới này là ở chỗ nó buộc con người phải nhận thức ra họ đích thực là ai, vượt lên trên Tên Gọi và Hình Tướng(3). Như thế, những gì ta cảm nhận là xấu xa từ một góc độ giới hạn của mình, thực ra là một phần của sự thánh thiện cao cả hơn, một điều không có sự đối nghịch. Tuy vậy, điều này không thể biến thành hiện thực cho bạn được, ngoại trừ qua lòng khoan dung của bạn. Cho đến lúc nào điều đó xảy ra, ác nghiệp vẫn chưa được phục hồi và do đó vẫn còn là ác nghiệp.

Qua lòng khoan dung, mà căn bản là nhìn nhận tính chất không xác thực của quá khứ và chấp nhận những gì đang có mặt trong phút giây hiện tại, thì sự chuyển hóa kỳ diệu ấy sẽ xảy ra, không những ở bên trong mà còn ở bên ngoài. Một không gian tĩnh lặng của sự có mặt sâu sắc xuất hiện ở trong bạn và chung quanh bạn. Bất kỳ một ai hay một cái gì đi vào trong trường nhận thức sâu lắng đó đều phải chịu ảnh hưởng, nhiều khi ngay lập tức và rất dễ nhận ra, nhiều khi sự ảnh hưởng xảy ra ở một tầng sâu hơn và những thay đổi có thể nhìn thấy được sẽ xảy ra sau đó. Bạn sẽ chuyển hóa những bất hòa, chữa lành khổ đau, xua đi mê mờ mà chẳng cần phải “làm” gì cả, bạn chỉ cần đơn giản có mặt và duy trì tần số của sự có mặt mạnh mẽ đó của bạn.

—–

 

CHẤM DỨT NHỮNG BI KỊCH CỦA ĐỜI BẠN

 

Trong trạng thái chấp nhận và an bình ở nội tâm, dù chúng ta không xem đó là một cái gì “xấu”, có điều gì tạm gọi là “xấu” có thể đi vào cuộc sống của chúng ta nhìn từ góc độ nhận thức bình thường?

Hầu hết những cái mà ta gọi là xấu thường xảy ra trong đời sống là khi người ta đánh mất nhận thức. Những bất hạnh đó do ta tự tạo ra hay nói đúng hơn là do bản ngã của chúng ta tạo ra. Tôi thỉnh thoảng gọi những bất hạnh đó là “bi kịch”. Khi bạn đã hoàn toàn tỉnh thức, bi kịch không còn diễn ra trong đời sống của bạn nữa. Tôi sẽ nhắc lại vắn tắt cách vận hành của bản ngã ở trong bạn và cách bản ngã tạo ra những tấn tuồng ấy như thế nào.

Bản ngã chính là lý trí của bạn khi không được bạn quan sát. Lý trí này chi phối cuộc đời của bạn khi bạn không có mặt với tư cách như là một nhận thức đang chứng kiến mọi việc đang xảy ra, như là một chứng nhân đang quan sát tâm tư của mình(4). Bản ngã của bạn tự cảm nhận rằng nó là một mảnh rời rạc trong một vũ trụ đầy thù nghịch, và thường bị vây bủa bởi những bản ngã khác mà nó xem như là một mối đe dọa tiềm tàng, hoặc nó sẽ gắng thu phục để phục vụ cho mình. Những mô thức vận hành căn bản của bản ngã đều nhằm để khắc chế nỗi sợ hãi và cảm giác thiếu thốn luôn sẵn có ở trong ta. Đó là những mô thức như chống đối, lũng đoạn, nắm quyền hành, lòng tham, chống chế hay công kích. Một số chiến thuật của bản ngã rất thông minh, nhưng chúng không thực sự giải quyết được vấn đề gì cho bạn, đơn giản chỉ vì tự thân bản ngã chính là vấn đề của bạn.

Khi bản ngã của mọi người đến với nhau, cho dù đó là một quan hệ cá nhân hay trong một tổ chức nào đó thì điều “xấu” sớm muộn gì rồi cũng sẽ xảy ra: đó là một bi kịch dưới dạng một xung đột, rắc rối, tranh giành quyền lực, bạo hành thể xác hoặc tình cảm, v.v… Kể cả những điều xấu có tính tập thể như chiến tranh, sự diệt chủng, bóc lột – và tất cà đều do sự thiếu sáng suốt của tập thể. Hơn nữa, nhiều loại bệnh tật là do sự chống đối không ngừng nghỉ của bản ngã, tạora sự trì trệ và tắc nghẽn dòng năng lượng khiến nó không được luân lưu khắp cơ thể. Khi bạn tiếp xúc lại với Hiện Hữu và không còn bị chi phối bởi lý trí nữa thì bạn sẽ chấm dứt việc tạo ra những bế tắc này. Bạn sẽ không còn tạo ra hoặc tham gia vào những bi kịch đó nữa.

Khi nào hai hay nhiều bản ngã gặp nhau, thì sẽ có một tuồng kịch nào đó đi kèm. Nhưng cả khi bạn hoàn toàn sống một mình, bạn vẫn tạo ra những tấn tuồng. Khi bạn cảm thấy hối tiếc cho chính mình, đó là một vở tuồng. Khi bạn cảm thấy có lỗi hay lo lắng, đó cũng là một vở tuồng. Khi bạn để cho quá khứ hay tương lai che mờ phút giây hiện tại, tức là bạn đang tạo ra thời gian tâm lý – đó chính là chất liệu dựng lên các bi kịch. Bất kỳ khi nào bạn không trân trọng phút giây hiện tại, bằng cách không để cho nó tự diễn ra thì bạn đang tạo ra bi kịch.

Đa số mọi người đều yêu thích những bi kịch riêng của đời mình. Cốt truyện là nhân cách, là những khuôn mặt giả tạo của họ. Bản ngã của họ chi phối cuộc đời họ, vì họ để cho toàn bộ cảm nhận về chính mình đầu tư vào trong những bị kịch đó. Thậm chí việc mong tìm một câu trả lời (thường thì không thành công), một giải pháp hay một sự chữa trị đều là một phần của bi kịch bản ngã. Nhưng điều mà họ sợ nhất chính là sự kết thúc của những tấn tuồng đó. Chừng nào mà họ còn đồng hóa họ với lý trí của họ thì những gì mà họ sợ nhất và chống đối nhất là sự giác ngộ của chính họ(5).

Khi bạn sống trong trạng thái chấp nhận hiện hữu một cách hoàn toàn, thì đó là lúc bạn chấm dứt mọi bi kịch trong đời sống của bạn. Ngay cả khi có ai muốn tranh cãi với bạn, họ cũng không thể làm được dù cho họ có cố gắng đến cách mấy. Bạn không thể tranh cãi với một người luôn có nhận thức sáng tỏ. Tranh cãi ngụ ý đồng nhất với lý trí và một vị thế trí năng(6) nào đó, cũng như cưỡng lại hoặc phản ứng lại một vị thế trí năng của người khác. Kết quả là các cực đối lập – đúng /sai, hơn/thua, v.v… – cùng được bổ sung năng lượng. Đây là cơ chế của sự nhận thứ. Tất nhiên là bạn vẫn có thể đưa ra quan điểm của mình một cách rõ ràng và dứt khoát, nhưng đằng sau nó không ẩn chứa một tiềm lực của sự phản ứng, cũng không có sự thủ thế hay công kích. Do đó quan điểm đó không trở thành một bi kịch. Khi bạn đã hoàn toàn có nhận thức, bạn sẽ chấm dứt mọi xung đột. Đây là điều đã được nêu ra trong cuốn “A Course in Miracles”: “Một người không thể nghĩ ra được một điều gì mâu thuẫn nữa, nếu người đó đã có sự hòa điệu trong bản thân của chính họ”. Điều này không những đúng với người khác mà căn bản hơn là rất đúng với chính mình. Nhất là những người đang có xung đột ở bên trong mình. Những xung đột này chỉ dừng lại khi trong bạn không còn sự xung đột giữa những yêu cầu và đòi hỏi khắt khe của lý trí bạn với những gì đang hiện hữu.

—–

 

TÍNH VÔ THƯỜNG CỦA VÀ CHU KỲ SINH DIỆT CỦA ĐỜI SỐNG

 

Tuy nhiên, khi nào bạn vẫn còn ở trong cõi thế gian vật chất này và còn dính với tâm thức tập thể của loài người thì những đớn đau về thể xác – dù hiếm hoi – vẫn còn dễ xảy ra. Nhưng đừng lẫn lộn những đớn đau về thể xác với khổ đau về mặt tinh thần. Tất cả mọi khổ đau về mặt tinh thần đều do bản ngã ở trong bạn tạo ra khi bạn chống đối với những gì đang hiện hữu. Khi bạn còn ở trong cõi này, bạn phải tuân theo chu kỳ tự nhiên của nó và theo quy luật Vô Thường của mọi sự, mọi vật, nhưng bạn sẽ không còn cho điều này là “xấu” – đó chỉ là một điều hiển nhiên.

Khi thuận theo “tính tự nhiên” của mọi thứ thì một chiều không gian sâu sắc hơn nằm sau vở kịch của hai đối cực sẽ hiển lộ ra cho bạn, đó là một sự có mặt trường cửu, một sự tĩnh lặng sâu lắng, và một niềm an vui không có nguyên cớ, vượt ra ngoài hai đối cực tốt/xấu. Đây là niềm vui của Hiện Hữu, sự yên bình của Thượng Đế.

Trên bề mặt hình tướng, ta thấy có sống, có chết, tạo dựng và hủy diệt, phát triển và tan rã,… của các hình tướng có vẻ tách biệt với nhau. Điều này được phản ảnh khắp mọi nơi: chu kỳ sinh diệt của một vì sao, một hành tinh, một thân thể vật lý, một thân cây, một cành hoa, sự thăng trầm của các quốc gia, những thể chế chính trị, của các nền văn minh, hay trong chu kỳ sinh diệt không tránh khỏi được của một đời người.

chu kỳ thành công, khi việc xảy ra và phát triển thuận lợi cho bạn. Có chu kỳ thất bại, khi chúng tàn úa hay phân rã và ta phải buông bỏ chúng để tạo không gian cho cái mới được phát sinh, hay cho sự chuyển hóa được xảy ra. Nếu lúc đó bạn còn bám víu và chống đối, tức là bạn khước từ, không muốn xuôi theo dòng chảy của đời sống, bạn sẽ phải gánh chịu khổ đau.

Không phải chu kỳ đi lên là tốt và chu kỳ đi xuống là xấu, vì đó chỉ là sự phân biệt, và kết luận của trí năng. Phát triển thường được chúng ta cho là tích cực nhưng chẳng có cái gì có thể phát triển mãi mãi. Nếu phát triển, dù dưới bất cứ hình thức gì, mà cứ tiếp tục và tiếp tục mãi thì cuối cùng sự phát triển đó sẽ trở nên một thứ quái vật và sẽ đi đến sự tận diệt. Sự tan rã là điều rất cần thiết để cho sự phát triển mới được xảy ra. Cái này không thể tồn tại mà không có cái kia.

Chu kỳ đi xuống là một cần thiết rất tuyệt đối cho nhận thức tâm linh ở trong bạn. Vì bạn phải trải qua nhiều thất bại sâu sắc hay kinh nghiệm sự mất mát to lớn thì mới giúp bạn đi đến với con đường tâm linh. Có thể là sự thành công của bạn bây giờ bỗng trở nên vô nghĩa, trống rỗng và biến thành một thất bại. Đằng sau mỗi thành công luôn ẩn giấu một thất bại và sau mỗi thất bại đều ẩn giấu sự thành công. Trong thế giới này, tức là về mặt hình tướng, thì mọi người không chóng thì chầy sẽ “thất bại” và mọi thành công cuối cùng cũng trở về số không. Mọi hình tướng đều chỉ là sự tạm bợ.

Tuy nhiên, bạn vẫn cứ năng nổ hoạt động và vui thú với những biểu hiện mới cũng như tạo dựng ra những hình tướng mới và tình huống mới nhưng bạn sẽ không đồng nhất bạn với những thứ đó và bạn sẽ không dùng chúng để tạo ra một cảm nhận về bản thân mình. Vì chúng không phải là ý nghĩa của đời bạn. Chúng chỉ là những tình huống sống của bạn.

Năng lượng cơ thể của bạn cũng có tính chu kỳ. Nó không thể luôn luôn ở đỉnh cao. Sẽ có lúc có năng lượng thấp cũng như có lúc sẽ lên cao. Sẽ có lúc bạn rất năng nổ và sáng tạo nhưng rồi cũng có lúc mọi thứ giống như trì trệ, lúc đó dường như bạn không thể đến được một nơi nào, hoặc thành đạt được một điều gì. Một chu kỳ có thể kéo dài từ vài giờ cho đến vài năm. Có chu kỳ lớn và những chu kỳ nhỏ nằm trong đó. Nhiều chứng bệnh là do đấu tranh với chu kỳ năng lượng thấp mà chu kỳ này là rất thiết yếu để có sự tái tạo. Khi còn đồng nhất với lý trí thì sự thôi thúc làm một việc gì và xu hướng dùng những thứ bên ngoài – sự thành công chẳng hạn – để mà có được cảm giác về giá trị của chính mình và cảm nhận về nhân cách, con người của mình, là một ảo tưởng không thể tránh được. Điều này làm bạn thấy khó hay không thể chấp nhận được một chu kỳ năng lượng thấp. Lúc này, sự thông minh của cơ thể, để thực hiện biện pháp tự bảo vệ nó, sẽ tạo ra tật bệnh ở trong cơ thể bạn để buộc bạn phải dừng lại, hầu tạo điều kiện cho sự tái sinh có thể xảy ra.

Chu kỳ tự nhiên của vũ trụ có liên quan mật thiết với tính Vô Thường của mọi sự vật và mọi tình huống. Do đó Đức Phật coi đây là trọng tâm của những lời răn dạy của mình. Mọi điều kiện đang biểu hiện đều rất bất ổn và thay đổi thường xuyên, hay, theo Ngài thì tính chất Vô Thường là đặc điểm của mọi tình huống mọi hoàn cảnh bạn sẽ gặp trong đời sống. Nó sẽ thay đổi, biến mất, hay không còn đáp ứng được nhu cầu của bạn nữa. Tính Vô Thường cũng là trọng tâm răn dạy của Chúa Jesus: “Đừng để dành của cải trên trái đất này, vì ở đó mối mọt, rỉ sét sẽ làm chúng tan rã hoặc kẻ trộm sẽ lẻn vào mang đi mất…”.

Chừng nào mà lý trí bạn còn xem một điều kiện nào là “tốt”, cho dù đó là một quan hệ, một vật sở hữu, một vai trò xã hội, một nơi chốn hay thân thể của mình thì lý trí bạn sẽ bám víu vào đó và đồng nhất với chính nó. Nó làm cho bạn vui, cảm thấy tự hào về chính mình và điều này có thể trở thành một phần nhân cách, con người của bạn hoặc cách bạn nghĩ về bản thân mình. Nhưng ở trong cõi tạm này thì “mối mọt và rỉ sét” sẽ tiêu hóa hết. Hoặc là nó chấm dứt hay thay đổi, hoặc là sẽ có sự phân cực: Cùng một điều kiện mà ngày hôm qua, hay năm trước thì tốt, nhưng dần dần hoặc bất ngờ lại hóa ra xấu. Cũng cùng một điều kiện mà trước đây khiến cho bạn vui, nay lại làm cho bạn không thấy vui nữa. Hôm nay là sự thịnh vượng thì ngày mai chỉ là chủ nghĩa tiêu thụ trống không. Đám cưới và tuần trăng mật đầy vui thú nay trở thành sự chia ly buồn bã hay sự sống chung đầy chịu đựng và bất hạnh. Cũng có thể một điều kiện tự nhiên biến mất, và sự biến mất đó làm cho bạn cảm thấy bất hạnh. Khi một hoàn cảnh hay một tình huống mà lý trí bạn đã bám víu vào và đồng nhất với nó nay đã thay đổi, hay mất đi, thì lý trí bạn không thể chấp nhận được. Lý trí bạn sẽ bám vào điều kiện mất mát đó và chống lại sự thay đổi, như thể có một phần tứ chi của bạn đang bị tách lìa khỏi cơ thể.

Thỉnh thoảng bạn nghe nói đến những người vừa bị mất sạch tiền bạc, hoặc thanh danh vừa bị chôn vùi và họ đi đến chỗ tự hủy mình. Đó là những trường hợp quá đáng. Còn những người khác khi có những mất mát lớn thì cảm thấy đau đớn, khổ sở và tự làm cho mình sinh bệnh. Những người này không có khả năng nhận ra sự khác biệt giữa cuộc đời họnhững tình huống sống của họ. Gần đây tôi có nghe một câu chuyện về một diễn viên điện ảnh nổi tiếng vừa qua đời ở độ tuổi tám mươi. Khi sắc đẹp của bà tàn phai và héo mòn vì tuổi tác, bà đâm ra tuyệt vọng và đi vào lối sống ẩn dật, không muốn gặp ai cả. Vì bà đã đồng nhất mình với hình dáng bên ngoài của mình. Thoạt đầu thì sắc đẹp đó cho bà một cảm giác rất hạnh phúc về mình, nhưng cũng chính vẻ đẹp bên ngoài đó khi đã tàn phai, làm cho bà cảm thấy rất khổ sở. Nếu bà tiếp xúc được với sự sống không-hình-tướng và không-thời-gian ở bên trong bà thì bà đã có thể lặng nhìn và để cho vẻ đẹp bên ngoài của mình bị tàn phai từ một chỗ rất tĩnh lặng và an bình ở bên trong. Nếu bà đã làm được như thế, thì vẻ đẹp bên ngoài ấy sẽ càng ngày càng trong suốt, để cho ánh sáng của bản chất chân thật, không tuổi tác của mình chiếu xuyên qua; và vẻ đẹp của bà thực sự sẽ không tàn phai mà sẽ được chuyển hóa thành một vẻ đẹp tâm linh. Tuy nhiên, chẳng ai chỉ cho bà biết điều này. Quả thật đây là hiểu biết cơ bản nhất mà đa số chúng ta vẫn chưa nắm được.

—–

 

Đức Phật dạy rằng ngay cả hạnh phúc của ta cũng làa dukkha – tiếng Pali(7) có nghĩa là “khổ đau”. Hạnh phúc không thể tách rời khỏi đối cực của nó. Điều này có nghĩa là hạnh phúc và khổ đau thực ra không phải là hai thứ khác nhau. Chỉ có ảo tưởng thời gian chia cắt chúng ra mà thôi.

Đây không phải là cách nhìn cuộc đời một cách tiêu cực, mà chỉ là nhận ra bản chất chân thật của cuộc đời để bạn không phí công đeo đuổi theo một ảo tưởng từ đây cho đến hết cuộc đời mình. Tôi cũng không nói rằng bạn không nên biết ơn cái đẹp, hay những điều kiện của hạnh phúc. Nhưng nếu qua những thứ đó mà bạn tìm kiếm cái mà chúng không thể cho bạn được: đó là nhân cách, cá tính của bạn(8), một cảm giác thỏa mãn và vững bền, thì đây quả là một điều sẽ tạo nên bực bội và khổ đau. Toàn bộ ngành quảng cáo và xã hội tiêu dùng ngày nay sẽ đổ sụp nếu con người trở nên tỉnh thức, không còn đi tìm một nhân cách, một diện mạo(9) cho chính mình qua vật chất nữa. Khi bạn càng đi tìm hạnh phúc theo kiểu này thì hạnh phúc sẽ càng lẩn tránh bạn. Không có một thứ gì ở ngoài kia có thể làm cho bạn thỏa mãn cả, giỏi lắm là chỉ được một lúc, và rất phù phiếm. Để nhận ra điều này thì bạn phải qua nhiều lần vỡ mộng. Vật chất và những hoàn cảnh sống của bạn có thể cho bạn chút niềm vui nhưng đồng thời nó cũng làm cho bạn khổ đau. Vật chất và những hoàn cảnh sống của bạn có thể cho bạn cảm thấy hài lòng, nhưng những thứ đó không cho bạn an lạc ở nội tâm. Thực ra không một thứ gì có thể “cho” bạn niềm an lạc cả. Vì an lạc chẳng do một cái gì tạo ra, mà chỉ xuất phát từ nội tâm như niềm an lạc của an nhiên tự tại. Đây là phần căn bản của trạng thái nội tâm an lành, thường được gọi là “sự bình an của Thượng  Đế”. Đây là một trạng thái rất tự nhiên, không phải là một cái gì mà bạn phải đấu tranh hay cố gắng mới đạt được.

Nhiều người vẫn không biết rằng sẽ không có sự cứu rỗi nào đến từ những gì họ làm, sở hữu, hay đạt được. Nên khi nhận ra được điều này thì họ bỗng trở nên rất chán đời hoặc xuống tinh thần: “Nếu đời sống không mang lại sự thỏa mãn gì cho tôi thì tôi phấn đấu nữa để làm gì? Còn điều gì quan trọng nữa đâu?” Vị tông đồ ghi lại kinh Cựu Ước chắc đã nhận ra sự thật đó khi ông viết: “Tôi đã thấy người ta làm tất cả mọi thứ dưới ánh mặt trời, và nhìn kia, tất cả chỉ là phù phiếm như trò đuổi bắt gió mà thôi”. Khi đạt đến chỗ này thì bạn chỉ cách sự tuyệt vọng có một bước chân, và cũng chỉ cách sự giác ngộ một bước chân(10).

Một tu sĩ Phật giáo có lần bảo tôi: “Sau 20 năm tu hành, những gì tôi học được có thể gói gọn trong một câu: Những gì đến rồi cũng sẽ đi. Đây là điều duy nhất mà tôi hiểu được”. Dĩ nhiên, điều mà vị thầy này muốn nói là: Tôi đã học cách không còn chống đối những gì đang xảy ra trong giây phút này; tôi học cách chấp nhận bản chất Vô Thường của mọi sự, mọi vật và mọi hoàn cảnh. Vì thế tôi đã tìm ra được sự an bình.

Không chống đối lại với sự sống tức là bạn sống trong một trạng thái ân sủng, giải thoát và nhẹ nhàng; là không còn phụ thuộc vào mọi chuyện phải như thế này, hay như thế kia, tốt hay xấu. Điều này khi bạn mới thoạt nghe thì sẽ cảm thấy có điều gì rất nghịch lý, tuy nhiên khi sự phụ thuộc nội tại vào hình tướng của bạn không còn nữa thì những điều kiện chung của cuộc sống của bạn ở bên ngoài lại tự nhiên có xu hướng cải thiện rõ rệt. Giờ đây bạn không cần phải đấu tranh hay gắng sức để có được những gì mình nghĩ là mình cần để cảm thấy hạnh phúc. Và khi có được những thứ đó, bạn có thể vui vẻ thưởng thức chúng mà không cần phải lo nghĩ gì. Dĩ nhiên tất cả những thứ đó rồi cũng sẽ qua đi, có điều ta không còn phụ thuộc, không còn lo sợ mất mát. Đời sống trôi chảy với sự nhẹ nhàng.

Hạnh phúc đến từ những nguồn thứ cấp không bao giờ sâu sắc. Nó chỉ như một phản ảnh nhạt nhẽo của niềm vui an nhiên tự tại – tức là nỗi an bình tỏa sáng ở nội tâm khi bạn đi vào trạng thái bất phản kháng. An nhiên tự tại giải phóng bạn ra khỏi hai đối cực của lý trí và giải phóng bạn khỏi sự phụ thuộc vào hình tướng. Dầu cho mọi thứ xung quanh sụp đổ tan tành, bạn vẫn không cảm thấy vui vẻ, nhưng bạn sẽ có được sự an bình.

—–

 

SỬ DỤNG VÀ BUÔNG BỎ TIÊU CỰC

 

Mọi chống đối ở bên trong đều là sự biểu hiện của thái độ tiêu cực dưới dạng này hay dạng khác. Tất cả mọi tiêu cực đều là sự chống đối. Trong bối cảnh này thì hai từ này hầu như là đồng nghĩa. Thái độ tiêu cực thay đổi tùy theo mức độ, từ cáu kỉnh hay mất kiên nhẫn cho đến giận dữ, từ trạng thái ủ dột cho đến oán hận hay tự tử vì tuyệt vọng. Thỉnh thoảng thái độ chống đối kích thích khối khổ đau sâu dày ở trong bạn và trong trường hợp này ngay cả một tình huống nhỏ cũng có thể tạo ra sự tiêu cực rất mạnh như giận dữ, trầm cảm hoặc đau buồn sâu sắc.

Bản ngã của bạn tin rằng chỉ qua sự tiêu cực, nó mới có thể thao túng được thực tại và đạt được những gì bản ngã của bạn mong muốn. Bản ngã của bạn tin rằng chỉ qua tiêu cực, nó mới có thể thu hút được những điều kiện nó mong muốn hoặc hóa giải đi những bất như ý. Cuốn “A Course in Miracles” có lý khi cho rằng khi bạn gặp những hoàn cảnh bất hạnh, ở trong một trạng thái thiếu hiểu biết, bạn tin rằng nỗi bất hạnh đó sẽ “mang lại” cho bạn những gì bạn cần. Nếu “bạn” – tức là lý trí – thực sự không tin là bất hạnh có tác dụng đó, thì tại sao nó lại tạo ra bất hạnh? Sự thật là tiêu cực không có tác dụng gì cả. Thay vì tạo ra một tình huống đúng như bạn mong muốn, nó lại ngăn cản, không cho điều đó xảy ra. Thay vì hóa giải một tình huống bất như ý cho bạn, tiêu cực lại làm cho tình trạng đó kéo dài. Chức năng “có ích” duy nhất của sự tiêu cực là củng cố bản ngã ở trong bạn và đây là lý do tại sao bản ngã bạn rất thích sử dụng tiêu cực.

Một khi bạn đã đồng nhất với mình một vài biểu hiện của tiêu cực, bạn sẽ không muốn buông bỏ những tiêu cực đó đi, và khi bạn đang ở trong một mức độ mất nhận thức sâu sắc, bạn sẽ không còn muốn có sự thay đổi tích cực nào cả. Vì những thay đổi đó đe dọa những nhân cách, những cá tính mà bạn vì thiếu hiểu biết, bám víu vào: Tôi là “một người có nhiều phiền muộn”, “một người hay giận dữ”, hay “một người luôn bị cuộc đời ngược đãi”… Do đó, bạn sẽ chối từ, hay phá hoại những điều tích cực trong đời sống của bạn. Đây là một hiện tượng rất phổ biến. Nhưng đó cũng là một sự điên rồ.

Thái độ tiêu cực là một điều hoàn toàn trái với tự nhiên. Đó là một sự ô nhiễm tâm linh. Có một liên hệ sâu sắc giữa chuyện đầu độc và tàn phá thiên nhiên với sự tiêu cực trầm trọng được tích lũy trong tâm linh tập thể của con người. Không có một sinh vật nào trên hành tinh này biết đến sự tiêu cực ngoài con người, cũng như không có sinh vật nào lại xâm phạm và đầu độc trái đất đang nuôi dưỡng chúng như loài người. Bạn có bao giờ nhìn thấy một bông hoa không tươi mát, một cây sồi biết buồn, con cá heo u sầu, một con ếch có vấn đề với tự tin, một con mèo không biết nghỉ ngơi, hay một con chim có dáng vẻ thù hằn… chưa? Những con vật duy nhất mà đôi khi có biểu lộ những kinh nghiệm tương tự như tiêu cực hay có dấu hiệu bị kích thích thần kinh thường là những sinh vật sống gần với con người, và vì thế mà lây phải chứng điên loạn của con người.

Hãy xem cây cối, động vật và để cho chúng dạy ta cách chấp nhận hiện hữu, chấp nhận vô điều kiện phút giây hiện tại. Để cho chúng dạy ta về an nhiên tự tại. Để cho chúng dạy ta về sự liêm chính – nghĩa là trước sau như một, là được sống đúng con người của mình, là được sống chân thật. Để chúng dạy ta về sống, chết, và để ta “không” biến sự sống, và cái chết thành một vấn đề.

Tôi từng sống với vài vị “thiền sư”, đó là những chú mèo, những chú vịt; chúng dạy tôi những bài học quan trọng về tâm linh. Chỉ cần nhìn chúng sinh hoạt với nhau thôi cũng là mộ thực tập Thiền cho tôi. Xem cách chúng bập bềnh trôi bình an rất thoải mái với chính mình ở trong hồ, hoàn toàn có mặt với phút giây hiện tại; sự chững chạc và toàn hảo của những sinh vật đang không bị sai sử bởi lý trí. Đôi lúc chúng cũng đánh nhau, chẳng vì một lý do gì rõ rệt, hoặc có lẽ vì một chú đã xâm phạm lãnh thổ của chú kia. Nhưng thường thì cuộc chiến chỉ kéo dài có vài giây, rồi chúng lại tách riêng ra, mỗi chú đi mỗi đường, sau vài cái vỗ cánh mạnh mẽ. Chúng bình thản bơi lội ở trong hồ, như chưa hề có chuyện ẩu đả gì vừa xảy ra. Lần đầu quan sát chúng, bất ngờ tôi nhận ra là khi vỗ cánh như thế, những năng lượng dư thừa trong chúng được phóng thích, khỏi bị dồn nén lại trong cơ thể và trở thành những năng lượng tiêu cực. Điều này là một sự thông thái rất tự nhiên, và rất dễ dàng đối với thú vật vì những chú vịt này không có lý trí như chúng ta, nên chúng không có vấn đề với chuyện quá khứ sống lại một cách không cần thiết và từ đó mà đi vun đắp nên một nhân cách, một khuôn mặt cho chính mình.

Lẽ nào một xúc cảm tiêu cực không ẩn chứa một điều gì đó quan trọng? Ví dụ như khi tôi đang cảm thấy buồn chán, thì đó có thể là dấu hiệu có một cái gì đó trục trặc trong đời sống của tôi. Điều này buộc tôi phải nhìn lại và thay đổi lối sống. Cho nên tôi cần phải lắng nghe xem những xúc cảm của tôi đang muốn nói gì với tôi, chứ không thể bác bỏ ngay, hoặc cho chúng là tiêu cực.

Vâng, cũng như tật bệnh, những cảm xúc tiêu cực lặp đi lặp lại thỉnh thoảng có ẩn chứa một điều gì đó. Nhưng nếu bạn có làm một thay đổi gì, cho dầu là trong công việc, trong quan hệ luyến ái, hay những gì chung quanh bạn, thì chung quy đó cũng chỉ là những trang điểm trên bề mặt mà thôi, nếu những thay đổi đó không xuất phát từ sự chuyển hóa trong tầm nhận thức của bạn. Và điều này tựu trung chỉ xoay quanh một vấn đề: đó là bạn có thực tập để có mặt nhiều hơn với phút giây hiện tại hay không. Khi đạt đến một mức độ có mặt nào đó, bạn sẽ không cần đến tiêu cực để nhắc cho bạn biết về những gì bạn cần phải chuyển hóa. Nhưng chừng nào mà bạn còn tiêu cực, hãy sử dụng nó làm một dấu hiệu nhắc bạn có mặt nhiều hơn.

Làm sao tôi có thể ngăn, không cho tiêu cực nảy sinh và làm sao buông bỏ chúng khi tôi đang có năng lượng tiêu cực ở trong người?

Như tôi đã nói, bạn ngăn nó bằng cách không cho nó nảy sinh, bằng cách bạn hãy có mặt hoàn toàn. Đừng nản chí, vì trên thế giới này vẫn còn rất ít người có thể duy trì sự có mặt của mình một cách bền bỉ, tuy nhiên có nhiều người sắp đạt đến trạng thái có định lực đó. Tôi tin rằng sẽ chóng có thêm rất nhiều người có khả năng có mặt bền bỉ hơn.

Khi nào bạn để ý thấy có một năng lượng tiêu cực nào đó đang trỗi dậy ở trong bạn, đừng xem đó là một thất bại, mà hãy xem đó là một dấu hiệu tốt để bạn tự nhắc nhở mình: “Tỉnh dậy đi, ta hãy vượt ra khỏi lý trí. Hãy trở nên có mặt”.

Aldous Huxley viết tiểu thuyết “Island” (Hòn đảo) vào những năm sau khi ông bắt đầu quan tâm đến việc truyền dạy tâm linh. Sách kể về câu chuyện một người đắm tàu trôi dạt vào một hoang đảo, cách biệt khỏi thế giới của con người. Trên hòn đảo này, có một nền văn minh rất độc đáo. Điều kỳ lạ là những cư dân ở trên đó, không giống như đa số nhân loại trong thế giới ngoài kia, đó là họ rất tỉnh táo. Điều đầu tiên người đàn ông bị đắm tàu này để ý là những chú vẹt sặc sỡ đậu trên những cành cây, chúng dường như chỉ lặp đi lặp lại một câu: “Xin mọi người hãy chú ý. Bây giờ và ở đây. Hãy chú ý nhé. Bây giờ và ở đây”. Sau này chúng tôi mới vỡ lẽ rằng những cư dân ở trên hoang đảo này đã dạy cho những chú vẹt đó câu nói ấy, để họ luôn được nhắc nhở mà thực tập có mặt ở hiện tại.

Vì vậy khi nào tiêu cực ở trong bạn nảy sinh, cho dù do một yếu tố ở bên ngoài, do một ý nghĩ, hay chẳng do một cái gì rõ rệt cả, bạn hãy xem như những tiêu cực đó đang muốn nói: “Bạn hãy chú tâm. Bây giờ và ở đây. Thức dậy đi”. Ngay cả khi bạn có một chút cáu kỉnh nhẹ nhàng nhất, điều đó cũng có một ý nghĩa cần được bạn nhìn nhận và xem xét; nếu không thì trong bạn sẽ có sự tích tụ của những phản ứng tiêu cực mà bạn có thể không ý thức được. Như tôi đã nói, bạn có thể buông bỏ những tiêu cực này một khi bạn nhận ra là mình không còn muốn lưu trữ một trường năng lượng tiêu cực ở trong mình, vì nó chẳng có mục đích gì cả. Lúc đó, chắc chắn là bạn sẽ buông bỏ hoàn toàn. Nếu bạn không thể buông bỏ được năng lượng đó, thì hãy chấp nhận rằng bạn đang có một năng lượng tiêu cực, và đặt sự chú tâm của bạn vào những cảm xúc đó như tôi đã trình bày ở trên.

Thay vì phải buông bỏ một phản ứng tiêu cực, bạn có thể làm cho phản ứng ấy biến mất bằng cách tưởng tượng rằng những nguyên nhân gây ra phản ứng từ bên ngoài đó sẽ không gây ra khó khăn gì cho bạn cả. Tôi khuyên bạn nên thực tập phương pháp này với những việc nhỏ nhặt, không đáng kể trước. Chẳng hạn, bạn đang tĩnh lặng ngồi ở nhà, bất ngờ có tiếng còi inh ỏi của một chiếc xe đang chạy ngang qua phố. Tức thì trong bạn sẽ phát sinh một cảm giác rất khó chịu. Sự khó chịu này có mục đích gì không? Không? Vậy tại sao bạn lại tạo ra nó? Không. Bạn đã không tạo ra sự khó chịu đó. Chính lý trí bạn đã tạo ra. Sự bực dọc này đã được tạo ra hoàn toàn tự động, hoàn toàn khi bạn ở trong trạng thái thiếu hiểu biết. Tạo sao lý trí bạn tạo ra nó? Vì lý trí tin rằng sự chống đối của nó, mà bạn cảm nhận được như một cảm xúc tiêu cực hay thái độ không vui, dưới một hình thức nào đó, sẽ hóa giải được những điều bất như ý ở trong bạn. Dĩ nhiên đây chỉ là một ảo tưởng. Sự chống đối mà nó tạo nên, trong trường hợp này là sự bực bội hay giận dữ, đã gây rắc rối nhiều hơn cái nguyên nhân ban đầu mà nó muốn hóa giải rất nhiều.

 

Bài tập 9.a: Hãy Để Cho Mọi Thứ Đi Xuyên Qua Bạn

Bạn có thể sử dụng tất cả những điều này để giúp bạn thực tập tâm linh. Hãy tự thấy mình trong suốt như không còn phần cơ thể vật chất ở bên trong. Rồi hãy để cho tiếng ồn đó, hay bất cứ một cái gì đã gây ra những phản ứng tiêu cực, đi thẳng xuyên qua bạn. Lúc đó nó không còn đụng phải một “bức tường” chắc chắn ở bên trong bạn. Như tôi đã nói, bạn hãy thực tập với những việc nhỏ trước, như tiếng còi xe, con chó sủa, tiếng trẻ la hét, một tai nạn kẹt xe. Thay vì dựng nên ở bên trong bạn một bức tường chống đối, bức tường thường bị đập phá liên tục và chịu nhiều đớn đau bởi những thứ mà lẽ ra “không nên xảy ra”, bạn hãy để cho những chuyện như thế đi xuyên qua bạn.

Khi có ai đó nói lời thô lỗ với bạn hay cố ý làm tổn thương bạn, thay vì có thái độ tiêu cực hay phản ứng lại một cách thiếu hiểu biết như là công kích, thủ thế hay thu mình lại, bạn hãy để cho nó đi qua bạn. Không để có một sự chống đối nào phát sinh ở bên trong bạn, như thể không còn ai ở đó nữa để mà bị tổn thương. Đó chính là lòng khoan dung. Đây là cách bạn cũng trở nên một người khó-có-thể-bị-tổn-thương được. Nếu muốn thì bạn vẫn có thể bảo với người kia là hành vi của họ là không thể chấp nhận được. Lúc này, người khác không còn khả năng điều khiển trạng thái tâm thức ở bên trong của bạn nữa. Bạn có năng lực và chủ quyền của mình, không phụ thuộc vào ai, cũng không còn bị điều khiển bởi lý trí. Cơ cấu chống đối ở trong bạn tựu trung là giống nhau, cho dù đó là chống lại một tiếng còi xe, một kẻ thô lỗ, một trận bão, một cơn động đất, hay chống lại chuyện bạn vừa bị mất hết của cải, tiền bạc.

Tôi đang thực tập Thiền, tôi có tham sự các khóa tĩnh tâm, cũng có đọc nhiều sách về tâm linh và đang cố gắng để đạt được trạng thái bất phản kháng. Nhưng nếu ông hỏi tôi là đã tìm ra được sự an bình đích thực và lâu dài ở nội tâm chưa, thì thật lòng tôi phải trả lời là “chưa”. Tôi không hiểu tại sao tôi vẫn chưa tìm ra được sự an bình ở nội tâm? Tôi cần phải làm gì đây?

Bạn vẫn còn đang tìm kiếm ở bên ngoài và bạn vẫn chưa thoát ra khỏi tâm thức tìm kiếm đó. Bạn kỳ vọng rằng có thể là khóa học sắp đến đây hay một kỹ thuật Thiền tập nào đó sẽ cho bạn câu trả lời. Nhưng tôi muốn nói với bạn điều này: Đừng đi tìm sự bình an. Đừng đi tìm trạng thái tâm thức gì khác hơn là trạng thái tâm thức mà bạn đang có trong lúc này, nếu không thì bạn sẽ tạo ra xung đột và sự chống đối ở nội tâm mà bạn không ý thức được. Hãy có lòng khoan dung với chính mình vì bạn đang không có được sự bình an. Phút giây bạn chấp nhận “hoàn toàn” sự không an bình của mình, thì nỗi bất an đó sẽ trở thành sự bình an. Bất kỳ một thứ gì mà bạn đã chấp nhận vô điều kiện thì điều đó sẽ đưa bạn đến với bình an. Đây là phép lạ của sự thực tập chấp nhận mọi chuyện một cách hoàn toàn.

—–

Chắc bạn có nghe câu nói: “Hãy chìa má bên kia ra”(11) mà một bậc thầy giác ngộ lớn đã thực tập cách đây hơn 2.000 năm. Ngài muốn chuyển tải, một cách hình tượng, bí quyết của thái độ bất phản kháng bất phản ứng. Trong lời phát biểu này, và cả ở trong những phát biểu khác của Chúa Jesus, Ngài chỉ để tâm đến một điều: bản chất chân thực, thiêng liêng ở bên trong của bạn, mà không phải là những cư xử thiếu sót ở bên ngoài của bạn(12).

Trước khi trở thành một bậc thầy về Thiền, Banzan(13) cũng có nhiều năm đeo đuổi giác ngộ nhưng giác ngộ vẫn trốn tránh ông. Ngày nọ, khi đang đi giữa chợ, vô tình ông nghe được câu chuyện giữa người bán thịt và một khách hàng: “Cho tôi một miếng thịt ngon nhất”, người khách nói. Người bán thịt trả lời: “Miếng thịt nào của tôi cũng đều là miếng thịt ngon nhất. Ở đây không có miếng nào không ngon nhất cả”. Khi nghe được điều này, Banzan bỗng nhiên giác ngộ. Tôi có thể thấy là bạn đang chờ một lời giải thích. Khi bạn đã chấp nhận hiện hữu, tức là chấp nhận mọi miếng thịt – mọi phút giây – thì mọi thứ đều là thứ tốt nhất, thì đó chính là giác ngộ.

—–

 

 

BẢN CHẤT CỦA LÒNG TỪ BI

 

Vượt qua khỏi các đối cực do lý trí tạo ra, lòng bạn giống như một hồ nước sâu. Những hoàn cảnh sống bên ngoài và những gì xảy đến cho bạn cũng chỉ như trên bề mặt của hồ nước. Mặt hồ có lúc yên, có lúc sóng gió và xao động, theo chu kỳ và theo mủa. Nhưng ở dưới sâu, đáy hồ luôn yên tĩnh. Bạn là toàn bộ cái hồ, chứ không chỉ là mặt hồ, và bạn tiếp xúc được với chiều sâu của mình. Chiều sâu này tuyệt đối yên tĩnh. Bạn không phản kháng với những thay đổi bằng cách cố bám vào một tình huống nào đó. Sự an bình nội tại không phụ thuộc vào một tình huống nào cả. Bạn an trú trong Hiện Hữu – bất biến, phi thời gian, bất tử – và bạn không còn phụ thuộc vào thế giới hình tướng hay thay đổi ở bên ngoài để mưu cầu cho mình có hạnh phúc hay một sự thỏa mãn nào nữa. Bạn có thể thưởng thức, vui chơi, tạo ra những hình sắc mới, hay chiêm ngưỡng vẻ đẹp của mọi thứ. Có điều là bạn bây giờ không còn cần phải bám vào bất kỳ một cái gì.

Khi bạn trở nên tách biệt như thế này, điều đó có nghĩa là bạn sẽ trở nên xa cách với những người khác, đúng không?

Không, nhưng trái lại nữa là khác. Khi nào bạn còn chưa ý thức được an nhiên tự tại, bạn sẽ không hiểu được bản chất của người khác, vì bạn vẫn chưa tìm ra được bản chất của chính mình. Lý trí của bạn sẽ thích hay không thích hình tướng bên ngoài của họ, tức là ngoài chuyện bạn không thích hình hài, mà còn cả lý trí của họ nữa. Quan hệ đích thực chỉ có thể xảy ra khi ta nhận thức được an nhiên tự tại. Xuất phát từ Hiện Hữu, bạn sẽ cảm nhận được thể xác và lý trí của người khác như là một tấm màn, đằng sau đó mới chính là bản chất chân thật của họ, cũng giống như khi bạn cảm nhận về bản chất chân thật của chính mình. Do đó, khi đối mặt với đau khổ và những hành vi thiếu hiểu biết của người khác, bạn vẫn luôn có mặt và tiếp xúc với Bản Chất Chân Thật, do đó bạn có thể nhìn vượt lên trên những hình tướng giả tạm và cảm nhận được Bản Chất thuần khiết và chói sáng của người khác qua Bản Chất thuần khiết và chói sáng của chính mình. Nhìn từ Bản Chất Chân Thật của mỗi người, tất cả khổ đau của ta được xem như là những ảo tưởng. Ta đau khổ vì ta tự đồng nhất ta với những biểu hiện tạm bợ của hình tướng(14). Những phép lạ trong vấn đề trị liệu thường xảy ra là nhờ nhận thức này, bằng sự tỉnh thức của bản chất chân thật ở trong chính bạn – nếu bạn đã sẵn sàng.

Đó có phải là lòng trắc ẩn không?

Vâng, lòng trắc ẩn là khả năng nhận thức được mối quan hệ sâu sắc giữa mình với những sinh vật khác. Nhưng lòng trắc ẩn cũng như mối liên hệ ràng buộc này có hai mặt. Một mặt, vì bạn đang hiện diện ở thế giới này trong một hình hài, bạn có chung tính chất dễ bị tổn thương và sự hữu hạn của hình hài vật chất với những người khác và mọi thể sống. Nếu sau này bạn nói “Tôi chẳng có gì giống người này cả” thì hãy nhớ rằng bạn rất giống họ. Một vài năm nữa từ hôm nay – hai năm hay bảy mươi năm cũng chẳng có gì khác nhau – cả hai người rồi sẽ là hai hình hài mục nát, biến thành tro bụi, rồi sẽ tan biến đi. Đây là một nhận thức có tác dụng thức tỉnh và giúp bạn cảm thấy khiêm tốn và lấy đi bớt cảm giác tự hào về chính mình. Bạn có thể hỏi: “Đây có phải là một lối suy nghĩ quá tiêu cực?”. Không, vì đó là một sự thực. Sao ta lại muốn nhắm mắt làm ngơ trước một sự thực rất hiển nhiên? Trong ý nghĩ này, bạn và các sinh vật khác là hoàn toàn bình đẳng.

 

Bài tập 9.b: Chiêm Nghiệm Cái Chết

Một trong những bài thực hành tâm linh cho bạn có tác dụng rất mạnh mẽ là chiêm nghiệm thật sâu sắc về sự diệt vong của các hình thể vật lý, kể cả thân thể của chính bạn. Điều này được gọi là thực tập: “Hãy chết, trước khi bạn thực sự đối diện với cái chết”(15). Bạn hãy đi vào cái Chết một cách sâu sắc. Hãy quán chiếu lúc hình hài của bạn đang sình thối lên, tan rã đi, rồi đến một lúc xác thân bạn sẽ tiêu tan hết, lúc những tâm hành(16) cùng những ý tưởng ở trong bạn cũng chết luôn. Tuy nhiên “bạn” thì vẫn còn đó – sự hiện hữu thiêng liêng của bạn vẫn còn đó, sáng ngời và hoàn toàn tỉnh thức. Những gì chân thực sẽ không bao giờ chết đi cả, chỉ có Tên Gọi, Hình Tướng(17) và ảo tưởng của bạn sẽ chết mà thôi.

—–

Nhận thức chiều không gian bất tử này, bản chất thực của bạn, chính là mặt bên kia của lòng trắc ẩn. Ở một mức độ cảm nhận sâu xa, bạn đã nhận ra không những tính bất diệtcủa chính mình, mà qua đó, bạn còn nhận ra tính bất diệt của các tạo vật khác. Trên bình diện hình tướng, sinh mệnh của bạn rất hữu hạn và không vững bền. Trên bình diện bản chất, bạn là sự sống vĩnh cửu, và sáng ngời. Đây là hai khía cạnh của lòng trắc ẩn. Trong lòng trắc ẩn, những tình cảm buồn, vui dường như đối lập, đã hòa lại làm một và chuyển hóa thành một trạng thái an bình sâu lắng ở nội tâm. Đây là sự an bình của Thượng Đế. Đó là một trong những tình cảm thiêng liêng nhất mà con người có thể có được và có năng lực chuyển hóa, và chữa lành rất lớn lao. Nhưng lòng trắc ẩn chân thật như thế vẫn còn rất hiếm. Sự cảm thông sâu sắc với khổ đau của người khác chắc chắn sẽ đòi hỏi một mức độ nhận thức cao hơn, nhưng đây chỉ là một khía cạnh của lòng trắc ẩn. Nó vẫn chưa hoàn thiện. Lòng từ bi chân chính vượt lên trên sự cảm thông hay đồng cảm. Chỉ khi nào nỗi buồn của bạn hòa lẫn với niềm vui của bạn để trở thành niềm vui của an nhiên tự tại, vượt lên trên hình tướng; đó mới là niềm vui của sự sống bất diệt.

—–

 

HƯỚNG ĐẾN MỘT TRẬT TỰ MỚI Ở MỘT THỰC TẠI KHÁC

 

Tôi không đồng ý rằng cơ thể ta cần phải chết đi. Tôi tin chắc rằng ta có thể đạt được sự bất tử về mặt vật chất. Vì chúng ta tin vào sự chết nên cơ thể ta mới bị chết.

Cơ thể bạn không chết đi chỉ vì bạn tin vào sự chết. Cơ thể bạn có mặt, hay có vẻ như thế, thật ra là vì bạn tin vào sống/chết. Cái chết và cơ thể của bạn là một phần của ảo tưởng do cách nhận thức có tính chất bản ngã của bạn tạo ra. Cách nhận thức này không nhận thức được Cội Nguồn của sự sống và sai lầm xem mình như là một cá thể bị tách biệt với thế giới chung quanh và thường xuyên bị đe dọa. Do đó bản ngã bạn tạo ra một ảo tưởng rằng bạn chỉ là một cơ thể, một cỗ máy vật lý, và thường xuyên bị đe dọa.

Cảm nhận về mình là một cơ thể dễ bị tổn thương được sinh ra và ít lâu sau thì chết – đó chính là một ảo tưởng. Cơ thể và sự chết là một ảo tưởng. Bạn không thể có cái này (cơ thể) mà không có cái kia (sự chết). Nếu bạn chỉ muốn giữ lại một phần của ảo tưởng (cơ thể) và loại trừ phần bên kia (sự chết) thì đó quả là một điều bất khả, không bao giờ có thể xảy ra được. Hoặc là bạn có cả hai, hoặc là bạn vứt bỏ cả hai.

Tuy nhiên, bạn không thể trốn thoát khỏi thân thể mình, và bạn cũng không cần phải làm như thế. Cơ thể của bạn tạo ra một cảm nhận vô cùng sai lầm về bản chất chân thật của bạn. Nhưng bản chất chân thật của bạn lại ẩn giấu ngay chính trong ảo tưởng đó, không phải ở ngoài, vì thế nên cơ thể bạn vẫn là điểm tiếp cận duy nhất với bản chất của mình.

Nếu bạn gặp một thiên thần và nhầm tưởng đó chỉ là một bức tượng bằng đá, điều bạn cần làm là điều chỉnh lại tầm nhìn của mình và nhìn kỹ lại bức “tượng đá” hơn, đừng nhìn đi đâu khác. Lúc ấy bạn sẽ thấy là chưa bao giờ có bức tượng đá ở đó cả(18).

Nếu niềm tin vào cái chết tạo ra cơ thể, thì tại sao súc vật lại có cơ thể? Súc vật không có bản ngã, và nó cũng không tin vào cái chết… Nhưng nó vẫn cứ chết, hay có vẻ như thế.

Hãy nhớ rằng khái niệm của bạn về đời sống chỉ là một sự phản ảnh của tình trạng tâm thức của bạn mà thôi. Bạn không thể tách rời khỏi những khái niệm đó và cũng không có một thế giới khách quan ở ngoài kia. Trong mỗi phút giây, nhận thức của bạn đều tạo ra một thế giới mà bạn đang sinh sống. Một trong những hiểu biết vĩ đại nhất của khoa vật lý hiện đại là tính thống nhất của người quan sát đối tượng bị quan sát: người tiến hành thí nghiệm – tức là nhận thức đang chú ý quan sát – không thể tách rời khỏi hiện tượng, hay đối tượng đang bị quan sát, và khi ta thay đổi một cách nhìn khác, thì ta sẽ làm cho hiện tượng đó cư xử khác đi. Nếu trong chiều sâu của tâm thức, bạn tin rằng mình chỉ là một cá thể bị tách biệt với đời sống và luôn đấu tranh để sống còn, thì bạn sẽ thấy rẳng niềm tin sai lạc đó được phản ảnh khắp tất cả mọi khía cạnh của đời sống của bạn, và cảm nhận của bạn bị chi phối bởi một nỗi sợ hãi thường trực. Bạn sống trong một thế giới của chết chóc và các cá thể đấu đá với nhau, giết chóc nhau, ăn tươi nuốt sống nhau…

Cái vẻ bề ngoài của mọi thứ mà bạn thấy chẳng nói lên được điều gì. Thế giới và lăng kính mà bạn tạo ra bởi lý trí đầy chấp ngã của mình dường như là một nơi rất thiếu hoàn thiện, có thể nói là một bể khổ. Nhưng những gì bạn cảm nhận chỉ là một biểu tượng, giống như những hình ảnh ở trong mơ. Đó là cách mà tâm thức của bạn diễn dịch và tương tác với vũ khúc năng lượng dưới dạng phân tử của vũ trụ. Năng lượng này là nguyên liệu cho cái ta gọi là thực tại vật lý. Bạn chỉ nhìn đời sống như là những cá thể tách biệt, có sống và chết, hay như là một cuộc đấu tranh để sinh tồn. Chỉ vì cách bạn nhìn và diễn dịch đời sống rất sai lạc, mà bạn đã và đang tạo ra vô số cõi, vô số cảnh giới rất khác nhau, ngay trong giây phút này. Mỗi thực thể hữu tình đều là một tâm điểm của nhận thức và mỗi tâm điểm như thế có khả năng tạo ra một thế giới của riêng nó, tuy vẫn liên quan với nhau. Có thế giới của loài người, thế giới của loài kiến, của loài cá heo, v.v… Có vô số thực thể mà tần số nhận thức rất khác với bạn đến nỗi bạn không thể nhận biết được sự hiện hữu của họ, và ngược lại. Có những thực thể có nhận thức rất cao, mà chính họ tự nhận thức được sự nối kết của họ với Cội Nguồn và với những thực thể khác, họ sẽ sống trong một thế giới mà đối với bạn có vẻ như là một cõi trời, tuy nhiên, rốt cuộc mọi thế giới đều chỉ là một.

Thế giới cộng nghiệp của loài người phần lớn được tạo ra bởi tầng nhận thức được gọi là nhận thức thuộc về lý trí. Ngay cả trong thế giới tập thể của loài người đó có vô số sự khác biệt, nhiều “tiểu thế giới” tùy thuộc vào người cảm nhận hay những người đã tạo ra những thế giới riêng đó. Vì tất cả các thế giới đều có sự liên quan mật thiết với nhau, nên khi nhận thức tập thể của loài người được chuyển hóa, thì thiên nhiên và thế giới của các loài động vật sẽ phản ảnh sự chuyển hóa đó. Vì lẽ đó Kinh Thánh có câu là trong kỷ nguyên sắp tới: “Sư tử sẽ cùng nằm chung với những con cừu”. Điều này đề cập đến khả năng hiện hữu của một trật tự hoàn toàn mới ở một thực tại khác.

Như đã nói, thế giới như chúng ta đang thấy bây giờ phần lớn là một sự phản ảnh của tâm thức bản ngã. Sợ hãi là một hậu quả không tránh khỏi của sự sai lầm của bản ngã nên nó là một thế giới bị chi phối bởi sợ hãi. Cũng như những hình ảnh trong mơ là biểu tượng của trạng thái tâm thức và tình cảm ở bên trong, do đó thế giới cộng nghiệp của ta, phần lớn là sự biểu hiện có tính tượng trưng của sự sợ hãi và của những tầng lớp tiêu cực nặng nề, tích lũy trong tâm thức tập thể của loài người. Ta không thể tách biệt với thế giới chung quanh ta, vì thế khi đa số loài người thoát ra khỏi sự lầm lạc của bản ngã thì sự thay đổi bên trong này sẽ ảnh hưởng đến mọi quá trình sáng tạo. Chắc chắn bạn sẽ sống trong một thế giới mới. Đó là một sự chuyển hóa trong tầm nhận thức mang tầm mức hành tinh. Phật giáo có câu nói lạ lung là mỗi thân cây, mỗi ngọn cỏ rồi sẽ đạt được giác ngộ cũng đề cập đến cùng chân lý này. Theo Thánh Paul, cả vũ trụ đang chờ đợi loài người thức tỉnh. Vì thế tôi diễn dịch câu nói của ngài là: “Vũ trụ chúng ta đang trông chờ con cái của Thượng Đế bắt đầu lộ diện”. Thánh Paul tiếp tục nói thêm rằng vũ trụ sẽ được đền bù lại qua quá trình chuyển hóa lớn lao này: “Cho đến bây giờ, khắp nơi trong vũ trụ đã được tạo dựng đều đang rên siết như đang thời kỳ đau đớn của một cuộc sinh nở”.

Những gì đang được sinh ra chính là một nhận thức mới và sự phản ánh tất nhiên của nó là một thế giới mới. Đây cũng là điều báo trước trong Kinh Tân Ước “Sách Khải Huyền”: “Rồi tôi nhìn thấy một thiên đàng mới và một quả đất mới vì thiên đàng và đất đai trước đây đã biến mất rồi”.

Nhưng đừng lẫn lộn giữa nguyên nhân và kết quả, mục đích chính của bạn không phảilà tìm kiếm sự cứu rỗi qua việc tạo dựng nên một thế giới tốt đẹp hơn, mà chính là tỉnh giấc khỏi thói quen tự đồng nhất mình với những hình tướng(19). Lúc đó bạn không còn bị trói buộc bởi thế giới này, với thực tại ở cấp độ này. Bạn có thể cảm nhận được gốc rễ của mình ở cõi Vô Tướng, và vì thế thoát ra khỏi sự vướng mắc với thế giới của hình tướng. Bạn vẫn còn thích thú những thú vui chóng tàn của thế giới này, mà không còn hãi sợ vì bị mất mát nữa nên bạn cũng không cần phải bám víu vào chúng. Mặc dầu bạn vẫn có thể thưởng thức những thú vui của cảm xúc, nhưng sự thèm khát về những kinh nghiệm của cảm xúc sẽ không còn, cũng như sự mải mê tìm kiếm cảm giác thỏa mãn qua việc nuôi lớn bản ngã và tâm lý cũng không còn. Bạn tiếp xúc được với một cái gì lớn hơn bất cứ niềm vui nào, bất cứ điều gì.

Nói một cách khác, bạn sẽ không cần đến đời sống nữa. Bạn cũng không cần đời sống phải khác hơn cách đời sống đang hiển hiện.

Chỉ ở mức độ này của tâm thức thì bạn mới có thể bắt đầu có những đóng góp thực sự trong việc mang lại một thế giới tốt đẹp hơn, trong việc tạo ra một trật tự mới ở một thực tại khác. Chỉ ở mức độ này của tâm thức thì bạn mới cảm nhận được Lòng Từ Bi đích thực(20)và giúp người khác hóa giải được nghiệp căn của họ(21). Chỉ có những người đã vượt lên trên thế giới của hình tướng trong chính họ mới mong có thể mang lại một thế giới tốt đẹp hơn.

Có thể bạn còn nhớ là chúng ta đã nói về bản chất hai mặt của Tâm Đại Bi đích thực, tức là nhận thức được mối liên hệ giữa việc chúng ta có cùng một đặc tính hữu hạn của sinh mệnh của đời người và sự bất tử, khi nhìn từ bản chất của chúng ta. Ở tầng mức sâu xa này, Tâm Đại Bi có tác dụng chữa lành theo ý nghĩa rộng rãi nhất. Trong trạng thái đó, tác dụng chữa lành của bạn cơ bản không còn căn cứ trên những việc bạn làm, mà chỉ căn cứ vào cách bạn sống an nhiên tự tại. Những người mà bạn quan hệ sẽ cảm được sự hiện diện của bạn và chịu tác động bởi niềm an bình toát ra từ con người bạn, dù họ có nhận thức được điều đó hay không. Khi bạn thực sự hoàn toàn có mặt và những người xung quanh bạn biểu lộ hành vi thiếu hiểu biết, bạn sẽ không có nhu yếu phản ứng lại vì thế bạn không tạo cho nó cơ hội trở thành một điều gì xác thực. Sự an bình của bạn quá bao la và sâu lắng đến nỗi những gì không phải là sự an bình đều bị tan biến vào trong niềm an bình đó, như thể sự bất an đó chưa bao giờ hiện diện. Điều này phá vỡ chu kỳ tác động và phản ứng có tính chất nghiệp báo. Thú vật, cây cối, hoa quả đều cảm nhận được sự an bình của bạn và phản ứng lại. Bạn dạy người khác bằng cách bạn sống, cách bạn cư xử,… qua việc hiển minh được sự bình an của Thượng Đế. Bạn trở thành “Ngọn hải đăng của thế giới”, tức là một sự hiển lộ của nhận thức thuần khiết, qua đó bạn xua tan khổ đau do nghiệp căn gây ra. Bạn loại bỏ mê mờ khỏi thế giới này.

—–

Nói như thế không có nghĩa là bạn sẽ không thể giáo huấn người khác qua những việc bạn làm – chẳng hạn như là chỉ cho người khác cách thoát ly khỏi sự kềm hãm của lý trí, nhận thức được những kiểu mê mờ khác nhau trong bản thân họ, v.v… Nhưng chính sự sống của bản thân bạn luôn luôn là lời răn dạy quan trọng hơn và là một nhân tố chuyển hóa thế giới mạnh mẽ hơn những gì bạn nói, thậm chí còn thiết yếu hơn là những gì bạn làm.

Vả lại, khi nhận ra sự quan trọng của thái độ sống an nhiên tự tại, bạn sẽ xử lý được mọi việc trên bình diện gốc rễ. Nhưng không loại trừ khả năng là Lòng Từ Bi của bạn có thể đồng thời được biểu hiện trên bình diện của những việc bạn làm và hiệu quả của nó bằng cách làm giảm bớt khổ đau ở người khác, khi bạn có cơ duyên. Khi bạn đang có bánh mì và gặp một  người đang bị đói, bạn sẽ trao tặng. Nhưng khi bạn trao bánh, dù đó chỉ là một trao đổi rất ngắn ngủi, điều quan trọng là giây phút đó là lúc bạn và người đó chia sẻ trạng thái an nhiên tự tại của nhau, trong đó mẩu bánh mì chỉ là một biểu tượng. Một sự chữa lành sâu sắc xảy ra trong hành động này. Trong giây phút đó, không có người cho, cũng không có người nhận.

Nhưng tôi nghĩ, điều trước tiên là cuộc đời không nên có những cảnh đói nghèo. Làm sao chúng ta tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn mà không phải đối phó với những điều xấu như đói nghèo hay bạo động trước?

Tất cả mọi điều xấu đều là “hậu quả” của sự thiếu nhận thức ở trong ta. Bạn có thể làm giảm hậu quả của sự thiếu nhận thức nhưng bạn không thể loại bỏ hẳn được vô thức, trừ phi bạn loại bỏ được nguyên nhân gây ra những hành động vô thức đó. Nhưng những thay đổi thực sự chỉ có thể xảy ra từ bên trong bạn, mà không phải bên ngoài.

Nếu bạn tự cảm thấy mình có sứ mệnh phải làm giảm bớt những khổ đau trên thế giới này thì đó là một việc làm cao cả, nhưng bạn hãy nhớ là đừng quá tập trung vào những thay đổi ở bên ngoài, nếu không bạn sẽ gặp phải bực tức và tuyệt vọng. Nếu không có những thay đổi sâu sắc trong tầm nhận thức của nhân loại thì khổ đau trên thế gian này là một cái hố sâu không đáy. Do đó đừng để cho lòng trắc ẩn ở trong bạn trở thành một phía. Cảm thông với niềm đau hay sự thiếu thốn của ai đó và lòng mong muốn giúp đỡ tha nhân của bạn còn phải được quân bình với một nhận thức sâu sắc hơn về bản chất vĩnh hằng của tất cả sự sống và rằng mọi khổ đau chung quy cũng chỉ là ảo tưởng. Rồi để cho cảm giác an bình ở trong bạn lan vào tất cả những gì bạn làm và bạn sẽ làm việc trên cả hai bình diện: nguyên nhân và kết quả cùng một lúc.

Điều này cũng đúng nếu bạn muốn ngăn chặn sự mất nhận thức một cách sâu sắc. Hãy nhớ rằng: Bạn không thể loại bỏ bóng tối, thì bạn cũng không thể loại bỏ sự thiếu nhận thức. Nếu bạn cố gắng làm vậy, các cực đối nghịch đúng/sai,… sẽ được làm mạnh thêm và bám rễ sâu hơn. Bạn sẽ có khuynh hướng đồng nhất mình với một trong hai đối cực,và bạn sẽ tạo ra một “đối thủ”, và do đó sẽ bị cuốn vào vòng tự mình đánh mất nhận thức của mình. Bạn nâng tầm nhận thức của người khác lên bằng sự thực tập của chính mình. Luôn nhớ là trong bạn không có chút hận thù, không có sự chống đối, và không có tiêu cực. Chúa Jesus từng nói: “Hãy yêu kẻ thù của mình”(22), tức là “bạn không còn kẻ thù nào nữa”.

Khi bạn chỉ chú tâm vào hậu quả của những hành động xấu – nghiệp quả(23) – của mọi việc thì bạn sẽ rất dễ tự đánh mất mình. Hãy giữ cho mình được tỉnh táo và luôn luôn có mặt. Chỉ nên chú tâm vào nguyên nhân của những hành động xấu – nghiệp căn – của mọi việc để giúp người khác giác ngộ là mục đích chính của đời mình. Sự an bình sâu xa của bạn là một món quà quý giá nhất bạn trao tặng cho thế giới này.

—–

Chú thích

  1. Đạo Ki-tô: Một tôn giáo tin vào Jesus Christ, tức là Chúa Jesus, một người sinh ra ở Do Thái cách đây hơn 2.000 năm, dưới thời La-Mã còn chiếm đóng đất Do Thái. Ngài là một bậc thầy đã giác ngộ. Khi bị gia hình trên cây thập tự giá, Ngài vẫn không thù ghét những người đã phỉ báng, gièm pha và sát hại Ngài. Ngài đã nói trước khi chịu chết: “Xin Cha tha tội cho những người này, vì họ không biết họ đang làm điều gì!”.
  2. “Ăn phải cây tri thức, biết phân biệt về những điều tốt/xấu”: Câu kinh này ngụ ý rằng từ khi loài người có óc phân biệt tốt/xấu, thiện/ác, đúng/sai thì càng ngày càng bị tự ngã và lý trí chi phối nên càng ngày càng trở nên sai lầm, xa rời Cội Nguồn, gốc rễ của mình.
  3. Tên Gọi và Hình Tướng: Hay Danh và Sắc – Danh từ Phật Giáo. Về Tên Gọi, vì con người có nhu yếu sáng tạo ra ngôn ngữ để truyền thông với nhau, từ đó họ đặt tên cho tất cả mọi sự, mọi vật để khái niệm, xác định và phân biệt vật này với vật kia. Hình tướng tức là vẻ bên ngoài của mọi sự vật. Ý nói ta phải vượt lên trên những khái niệm, sự phân biệt nhị nguyên và sự bám víu vào những hình thể bên ngoài của mọi sự, mọi vật thì ta mới tiếp xúc được với Tự tánh của vạn vật.
  4. Một nhận thức đang chứng kiến những gì đang xảy ra, một chứng nhân đang quan sát tâm tư của mình: Tức là thực tập nhận diện và gọi tên tất cả những suy tư, cảm xúc gì đang xảy ra trong tâm mình. Ví dụ, khi quan sát tâm tư mình, bạn nhận ra có một cảm xúc giận dữ đang biểu hiện ở trong lòng thì bạn chỉ cần nhận diện cảm xúc đó và tự nhủ: “Ồ có một cảm xúc giận dữ đang có mặt ở trong lòng tôi”. Nhận diện và gọi tên như thế mà vẫn giữ được sự có mặt của mình, vẫn duy trì hơi thở nhẹ nhàng và không tránh né, hay phán xét những gì đang có mặt trong lòng bạn dù trong bất kỳ tình huống nào. Điều này sẽ giúp cho bạn chuyển hóa những cảm xúc tiêu cực đó rất nhanh chóng. Đây cũng chính là cốt lõi của Thiền tập giúp cho ta có niệm lực, định lực để nhìn ra bản chất của sự vật để có tuệ giác, giác ngộ.
  5. Chừng nào bạn còn đồng hóa mình với những bi kịch của đời mình thì giác ngộ là một điều đáng sợ: Trong con đường thực tập tâm linh, khi nhìn cho rõ và thành thật với chính mình, không phải ai cũng mong muốn đi đến giác ngộ viên mãn. Vì ở trong ta luôn có những khổ đau, thói quen của sự thèm khát, những mê đắm,… mà trong vô thức, chúng ta cho đó là mình, cho nên chúng ta rất sợ giác ngộ, vì biết rõ rằng khi đã giác ngộ, chúng ta sẽ đương nhiên từ bỏ những thói hư, những tiêu cực đó, nên chúng ta chỉ thực tập cầm hơi, như một thí sinh, một người đi thi bằng tiến sĩ mà sợ đỗ đạt, sợ thành công.
  6. Vị thế trí năng: Tức là bảo vệ một quan điểm, một chỗ đứng nhất định, có tính không nhượng bộ, không mềm dẻo trong cách suy nghĩ, trong suy tư của mình.
  7. Tiếng Pa-li: Một loại ngôn ngữ cổ được dùng để viết lại những bài giảng, những kinh tạng của Đức Phật.
  8. Qua đó mà bạn tìm một nhân cách hay cá tính của mình: Vì không biết bản chất chân thực của mình là ai, nên chúng ta thường có khuynh hướng tự đồng nhất mình, cho mình chính là những vai trò mà mình đóng trong gia đình: là một người cha, người mẹ, người vợ, hay người chồng,… Hoặc nghề nghiệp của mình ngoài xã hội: một người bác sĩ, một kỹ sư,… thậm chí cả những bất hạnh, khổ đau,… mà chúng ta trải qua trong cuộc đời cũng trở thành những nhân cách, cá tính của mình: “tôi là một người đàn ông thất bại”, “một người đàn bà bệnh hoạn”, “một kẻ không ai thương”,… Quên rằng, tất cả những thứ này chỉ là những vai trò mà chúng ta “đóng” trong những tình huống khác nhau, hoặc là những niềm tin sai lạc, mà không phải là bản chất chân thực của mình.
  9. Tìm nhân cách, diện mạo của mình qua những sản phẩm mà mình sở hữu, tiêu thụ,…: Chúng ta đi tìm một nhân cách cho chính mình qua sự thành công trong nghề nghiệp, qua chuyện sở hữu một chiếc xe hơi lộng lẫy, v.v…
  10. Khi đạt đến chỗ này, bạn chỉ cách tuyệt vọng có một bước chân, cũng chỉ cách giác ngộ một bước chân: Khi đến tận đáy của sự tuyệt vọng, của sự vô minh, bạn cũng đến gần với cánh cửa của giác ngộ, vì vô minh và giác ngộ là hai mặt của cùng một đồng tiền. Do đó, khi nhận ra cuộc đời của mình từ trước đến nay chỉ toàn là chạy đuổi theo những phù phiếm ở bên ngoài, chúng ta sẽ đi đến đoạn cuối của con đường cũ, con đường hướng về bên ngoài này, để bắt đầu quay đầu lại để đi về một hướng đi mới, đó là con đường tâm linh, đó là hành trình hướng vào bên trong, hướng vào nội tâm.
  11. “Hãy chìa má bên kia ra”: Là một thực tập chấp nhận vô điều kiện đến mức tột đỉnh. Chúa Jesus khuyên rằng khi có ai vừa đánh vào má của mình thì thay vì phản ứng, điều mà chúng ta nên làm là chấp nhận sự kiện đó mà không phản ứng, trả đũa, hay nổi giận,… nói một cách khác: “Hãy chìa má bên kia ra!”.
  12. “Ngài chỉ quan tâm đến bản chất bên trong của bạn, chứ không phải những hành vi thiếu sót ở bên ngoài của bạn”: Vì Chúa Jesus đã tiếp xúc được với bản chất chân thực của Ngài nên không còn thấy có sự phân biệt giữa Chúa và chúng ta. Do đó, ngay cả đối với những người đã gièm pha, ám hại Ngài, Ngài vẫn không đem lòng oán trách, mà chỉ có thương yêu và lòng tha thứ.
  13. Banzan: Bàn Sơn Bảo Tích, sinh năm 720, mất năm 814. Là một vị thiền sư người Trung Hoa, môn đệ nối pháp của thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất. Ngài thấy được tự tánh của ngài, hoát ngộ ngay khi đang ở giữa chợ, khi đang đi ngang qua một hàng thịt, nghe mẩu chuyển trao đổi giữa khách mua v&ag

CHƯƠNG VIII: QUAN HỆ NAM NỮ TRONG TRẠNG THÁI TỈNH THỨC DÙ ĐANG Ở ĐÂU, BẠN HÃY AN TRÚ TRONG PHÚT GIÂY HIỆN TẠI

Tôi thường cho rằng không thể có giác ngộ đích thực ngoại trừ qua tình yêu nam nữ. Không phải điều này làm cho ta cảm thấy toàn vẹn ư? Nếu điều này không xảy ra thì làm sao ta có được cuộc sống thỏa mãn?

Theo kinh nghiệm của bạn thì điều này có đúng không? Điều đó đã xảy ra cho bạn?

Chưa, nhưng làm sao mà có thể khác đi được? Tôi biết rằng nó “sẽ” phải xảy ra.

Nói một cách khác, bạn đang trông đợi một điều gì đó xảy ra trong tương lai để cứu vớt bạn kịp lúc. Đây không phải là một sai lầm căn bản mà ta đã nói trước đây ư? Sự cứu rỗi không thể xảy ra ở một nơi chốn, hay thời gian nào khác. Giải thoát chỉ có thể xảy ra ở đây và ngay bây giờ.

Câu nói “giải thoát chỉ có thể xảy ra ở đây và ngay bây giờ” có nghĩa là gì? Tôi không hiểu gì cả. Giải thoát có nghĩa là gì, tôi cũng không biết nữa.

Hầu hết mọi người tìm kiếm sự thỏa mãn về mặt tâm lý qua những thú vui xác thịt hay những thú vui nào đó vì họ tin rằng những thú vui này mang lại cho họ hạnh phúc hay giúp họ thoát khỏi cảm giác sợ hãi hay thiếu thốn. Họ cảm nhận hạnh phúc như là một cảm giác sống động mạnh mẽ đạt được bằng sự khoái cảm về thể xác hay là cái cảm giác yên ổn và toàn vẹn hơn với bản thân mình, qua một hình thức thỏa mãn tâm lý nào đó. Đây là một sự tìm cầu được giải thoát vì tự thân họ cảm thấy bất toàn hoặc bất như ý. Dĩ nhiên, những cảm giác thỏa mãn như thế dù có được đi nữa thì thường cũng chỉ nhất thời, vì vậy những gì con người cảm thấy cần được thỏa mãn, một lần nữa, lại được phóng chiếu về một tiêu điểm tưởng tượng ở trong tương lai, không có ngay ở đây và bây giờ. Sự tìm cầu như thế sẽ dễ dẫn dắt ta đến lối suy nghĩ: “Khi tôi có được cái này hay không vướng bận bởi cái kia, thì tôi sẽ được thong dong”(1). Đây là lối suy nghĩ mê lầm tạo nên bởi ảo tưởng rằng có thể có một sự giải thoát nào đó trong tương lai.

Nhưng sự giải thoát đích thực chính là sự hài lòng, sự yên bình trong nội tâm mà không do những thành tựu ở bên ngoài mang lại. Đó là đời sống của bạn với tất cả những thành công thất bại của nó. Đó là khi bạn dám sống với con người chân thật của mình, là khi bạn cảm nhận cái thánh thiện, luôn sẵn có ở bên trong, mà không có sự đối nghịch; đó là niềm an vui từ thái độ sống an nhiên tự tại với mọi sự, mọi hoàn cảnh trong đời bạn, mà không bị phụ thuộc vào bất cứ cái gì ở bên ngoài. Sự cứu rỗi đích thực được cảm nhận như là một sự có mặt vững bền, hơn là một cái gì chóng qua. Nói theo người Cơ Đốc, đó là “nhận thức được bản chất Thượng Đế”, không phải là một cái gì ở bên ngoài mình, mà đó cũng chính Phật Tánh, là bản chất sâu lắng nhất của chính bạn. Cứu rỗi đích thực là biết được ta chính là một phần bất khả phân ly của Sự Sống Duy Nhất vĩnh cửu, không hình tướng, chỗ mà từ đó, tất cả mọi vật trên thế gian này được phát sinh.

Sự cứu rỗi đích thực là thoát ly khỏi mọi sợ hãi, khổ đau, không còn cảm thấy mình chưa toàn vẹn, chưa đầy đủ hay chưa tốt, và vì thế mà bạn thoát ra khỏi mọi ham muốn, mọi nhu cầu thu giữ và bám víu. Đó là sự thoát ly khỏi lối suy nghĩ có tính chất bó buộc, thúc bách, thoát ly khỏi những thái độ tiêu cực, và trên hết thoát ly khỏi nhu cầu tâm lý về quá khứ và tương lai. Lý trú của bạn luôn cho rằng, trước khi bạn có thể đi từ chỗ này đến chỗ kia, bạn cần phải làm một cái gì đấy, hay bạn phải là cái này hay cái nọ trước khi bạn có thể đạt được tự do mỹ mãn. Thật ra trí năng bạn đang ám chỉ rằng bạn cần thời gian, rằng bạn phải tìm tòi, sắp xếp, thực hiện, thu hoạch, thay đổi hay học thêm về một cái gì đó trước khi bạn có được tự do trọn vẹn. Bạn xem thời gian là phương tiện của sự cứu rỗi, trong khi thực sự thời gian là trở ngại lớn nhất của bạn. Bạn cho rằng bạn không thể đến đó từ nơi này và từ chính con người bạn vào lúc này vì bạn chưa hoàn thiện hay chưa tốt lắm. Sự thật là ở đây và bây giờ là điểm xuất phát duy nhất để đến đó. Bạn “đến” đó bằng cách nhận ra là bạn đã ở đó rồi. Lúc nào bạn cảm thấy bạn không cần phải đi tìm kiếm Thượng Đế nữa là lúc bạn tìm ra Thượng Đế. Vì vậy con đường đến với sự cứu rỗi không phải chỉ có một con đường, có nghĩa là có rất nhiều cách, bất kỳ hoàn cảnh nào cũng có thể đưa ta đến giải thoát, không cần phải có một hoàn cảnh, điều kiện đặc thù nào. Tuy nhiên chỉ có một điểm tiếp cận, một lối vào: Đó là phút giây hiện tại. Không có sự cứu rỗi nào bên ngoài phút giây này. Bạn đang cô đơn vì không có người kết bạn? Hãy đi vào phút giây hiện tại từ chỗ đó(2). Bạn đang sẵn có một quan hệ với một người khác phái(3)? Hãy đi vào phút giây hiện tại từ chỗ đó. Nói một cách khác: Hãy an trú, và chấp nhận tất cả những gì đang có mặt trong quan hệ của bạn trong phút giây này.

Không có điều gì khác mà bạn có thể làm được để đưa bạn đến gần sự giải thoát hơn là phút giây này. Rất khó cho trí năng của bạn để hiểu được điều này vì trí năng thường quen với lối suy tưởng rằng những gì có giá trị đối với bạn chỉ có ở tương lai. Ngược lại, dù cho những gì bạn đã làm hay những gì đã xảy đến cho bạn trong quá khứ cũng không thể ngăn cản được bạn chấp nhận tất cả những khó khăn đang có mặt trong đời sống của bạn và giúp bạn chú tâm sâu sắc hơn vào phút giây hiện tại. Bạn đâu thể làm được điều này trong tương lai. Bạn chỉ có thể làm điều này ngay bây giờ hay bạn sẽ không bao giờ làm được cả.

—–

 

NHỮNG QUAN HỆ YÊU/GHÉT TẦM THƯỜNG

 

Cho đến khi nào bạn tiếp xúc được với tần số rung của tâm thức của sự có mặt đích thực ở trong bạn, thì tất cả những quan hệ của bạn với người khác, đặc biệt là các quan hệ thân mật giữa nam nữ đều có sẵn nhiều bất toàn và rốt cuộc sẽ dẫn đến sự tha hóa, phân rã. Trên bề mặt, chúng có vẻ hoàn hảo trong một thời gian nào đó, như trong khi bạn “đang yêu”, nhưng cái vẻ hoàn hảo hiển nhiên đó luôn luôn dễ bị phá vỡ khi những tranh cãi, xung đột, bất mãn, thậm chí bạo hành thể xác hoặc tinh thần(4) xảy ra ngày càng nhiều. Dường như là hầu hết những “quan hệ yêu đương” đều nhanh chóng trở thành những quan hệ yêu/ghét tầm thường. Lúc đó tình yêu đã biến thành sự đả kích tàn nhẫn, cảm giác hận thù, hay hoàn toàn dửng dưng chỉ trong một thoáng chốc. Hiện tượng này vẫn được cho là bình thường. Quan hệ lúc đó chỉ dao động trong một thời gian, vài tháng hay vài năm, giữa hai thái cực của “yêu” và “ghét”, và quan hệ đó cho ta nhiều khoái cảm dễ chịu cũng như nhiều hệ lụy, khổ đau. Nhiều cặp thường đâm ra ghiền những quan hệ luẩn quẩn như thế. Vì những bi kịch trong những quan hệ loại ấy có lẽ làm họ cảm thấy như là họ đang thực sự sống. Nhưng sớm muộn gì rồi cũng có lúc sự mất quân bình giữa hai thái cực tích cực tiêu cực, và khi chu kỳ có tính tiêu cực và hủy hoại xảy ra ngày càng nhiều và mạnh mẽ hơn, lúc đó quan hệ của họ sẽ nhanh chóng đi đến đổ vỡ.

Thoạt tiên, bạn nghĩ có lẽ ta chỉ cần loại bỏ chu kỳ tiêu cực hay hủy hoại kia thì mọi chuyện sẽ ổn thỏa thôi và quan hệ đó sẽ mặn nồng trở lại. Nhưng than ôi, điều này không bao giờ xảy ra được vì hai đối cực yêu/ghét kia phụ thuộc lẫn nhau. Bạn không thể có cái này mà không có cái kia. Cái tích cực đã chứa đựng sẵn trong nó cái tiêu cực chưa hiển lộ. Cả hai đều là hai khía cạnh của cùng một sự tha hóa trong tự thân. Ở đây tôi đang nói đến loại quan hệ có tính chất lãng mạn thông thường, không phải là thứ tình yêu đích thực, vì tình yêu đích thực không thể có đối nghịch do nó xuất phát từ một chỗ sâu hơn ở trong bạn, vượt lên trên lý trí. Thứ tình yêu lâu bền như thế thường rất hiếm, hiếm hoi như những con người đã có được sự tỉnh thức. Tuy nhiên, những thoát yêu thương ngắn ngủi như thế cũng có thể xảy ra khi có sự gián đoạn trong dòng suy nghĩ miên man ở trong bạn, nhưng những thoáng yêu thương như thế rất ngắn ngủi và rất khó duy trì.

Dĩ nhiên là trong một mối quan hệ, khía cạnh tiêu cực thường dễ dàng được nhận ra hơn là khía cạnh tích cực. Ta cũng thường dễ dàng nhận ra những tiêu cực xuất phát từ người mình yêu hơn là những tiêu cực có gốc rễ ở trong chính mình. Tiêu cực có thể được thể hiện dưới nhiều dạng: khuynh hướng chiếm hữu, tính ghen tuông, sự lấn quyền, thái độ lạnh nhạt, lòng oán hận không hề nói ra, sự cố chấp, khuynh hướng thích tranh phần đúng về mình, sự thô lỗ, thái độ chỉ biết lo cho riêng mình, thói quen đòi hỏi và toan tính trong tình cảm, thích gây hấn, phê bình, phán xét, đổ lỗi cho người khác, đả kích, giận dữ, báo thù một cách thiếu hiểu biết vì những khổ đau của cha mẹ mình đã gây ra cho mình trong quá khứ, hoặc thịnh nộ và đi đến khuynh hướng bạo hành về thể xác(5).

Về mặt tích cực đó là cảm giác “đang say đắm trong tình yêu” với người bạn gối chăn của mình. Thoạt đầu, đây là một trạng thái cực kỳ thỏa mãn. Bạn cảm thấy sống động một cách mãnh liệt. Sự có mặt của bạn trên cuộc đời này bỗng nhiên trở nên có ý nghĩa hơn vì có một người đang cần đến bạn, đang ham muốn bạn, và điều này làm bạn cảm thấy mình rất đặc biệt và bạn cũng làm như vậy đối với người kia. Những khi bạn có nhau, bạn cảm thấy như toàn vẹn và đầy đủ hơn. Cảm giác ấy có thể mạnh đến nỗi thế giới lúc ấy đối với bạn không còn quan trọng như trước đây nữa.

Tuy nhiên, hẳn bạn cũng nhận thấy rằng có sự phụ thuộc và đeo cứng lấy nhau trong cơn đắm say đó. Bạn trở nên nghiện người kia. Người ấy tác động đến bạn giống như một chất gây nghiện. Bạn cảm thấy phấn khởi khi bạn có thuốc. Nhưng khi bạn chỉ thoáng nghĩ, hoặc khi có một khả năng là bạn sẽ bị mất người kia thì bạn sẽ trở nên ghen tuông, muốn chiếm hữu, dọa nạt, uy hiếp trong tình cảm, trách móc và tố cáo. Nói chung là vì bạn sợ đánh mất mối quan hệ này. Nếu bạn bị ruồng bỏ, bạn sẽ cảm thấy thù hằn hoặc khổ đau và thất vọng không cùng. Trong phút chốc, tình yêu dịu ngọt bỗng nhiên trở thành một sự công kích không chút xót thương hoặc là nỗi đau buồn kinh khủng. Tình yêu nồng thắm đó bây giờ đi đâu mất? Tình yêu nồng cháy đó có thể nào trong phút chốc trở thành một thái cực đảo ngược? Đó có phải là tình yêu chân chính ngay từ thuở ban đầu, hay chẳng qua đó chỉ là sự vồ vập có tính nghiện ngập và vướng mắc?

—–

 

LÒNG ĐAM MÊ VÀ SỰ TÌM VỀ TRẠNG THÁI HỢP NHẤT

 

Tại sao ta trở nên “nghiện ngập” với một người khác phái?

Lý do tại sao quan hệ tình yêu lãng mạn của nam nữ là một trải nghiệm mạnh mẽ và được mọi người tìm kiếm là vì một quan hệ như thế dường như đưa người ta đến cảm giác thoát ra khỏi tình trạng sợ hãi, nhu cầu cần có một người khác phái để bù đắp cảm giác cô độc và thiếu thốn; đây là một phần của lối sống của nhiều người trong điều kiện chưa có sự cứu rỗi và giác ngộ đích thực. Trạng thái này có chiều sâu về thể chất và tâm lý.

Về mặt thể chất, rõ ràng bạn chưa toàn vẹn, và cũng không bao giờ cảm thấy thực sự toàn vẹn cả: vì bạn hoặc là đàn ông, hoặc là đàn bà, tức là một nửa của cái toàn thể. Về phương diện này, cảm giác mong muốn để trở thành một cái gì toàn thể – trở về với nhất thể – được thể hiện dưới lực hấp dẫn giữa người đàn ông và người đàn bà, nhu yếu của người đàn ông cần có một người đàn bà, và nhu yếu của người đàn bà cần có một người đàn ông. Đây là một sự đòi hỏi hầu như không thể cưỡng lại được để tiến tới sự hợp nhất giữa hai thái cực có năng lượng đối nghịch. Lòng ham muốn thể xác này còn có gốc rễ trong lĩnh vực tâm linh: Đó là sự mong muốn chấm dứt sự phân cách giữa hai đối cực ở trong bạn, để trở về trạng thái hợp nhất. Về mặt thể chất thì sự giao hợp trong tình dục là cách ngắn nhất để đạt đến tình trạng hợp nhất này. Cho nên kinh nghiệm tình dục này mang lại cho ta nhiều khoái cảm nhất trong thể xác, trong cảnh giới vật chất này. Nhưng sự giao hợp trong tình dục chỉ là một thoáng của trạng thái hợp nhất, một khoảnh khắc quá ngắn ngủi của niềm hạnh phúc sâu xa. Chừng nào mà bạn còn thiếu hiểu biết, xem tình dục như là một phương tiện cứu rỗi cho bạn, chừng đó bạn còn cố tìm cách chấm dứt sự phân cực trên bình diện hình tướng, và đó là một điều không bao giờ có thể xảy ra được. Đời sống cho bạn cảm nhận một thoáng hợp nhất ngắn ngủi như được lên thiên đàng, nhưng bạn không được phép ở lại đó lâu, và sau đó, bạn lại tìm thấy mình trong một hình hài riêng biệt, không còn cảm thấy hợp nhất với mọi thứ chung quanh mình.

Về mặt tâm lý, cái cảm giác thiếu thốn và chưa trọn vẹn ở trong bạn ít nhiều còn mãnh liệt hơn so với mặt thể chất. Khi nào bạn còn đồng nhất mình với lý trí, bạn sẽ có khuynh hướng tìm kiếm chính mình qua những gì ở bên ngoài. Tức là bạn sẽ có khuynh hướng tìm kiếm chính mình qua những thứ mà rốt cuộc không liên quan gì đến những gì chân thật của bạn như: địa vị xã hội, của cải, ngoại hình, thành công hay thất bại, tín ngưỡng, v.v… Cái bản ngã sai lầm do lý trí tạo ra, cái bản ngã luôn cảm thấy dễ bị tổn thương, thiếu an toàn, và luôn tìm kiếm một cái gì mới để bám vào, cho mình chính là cái đó và tạo ra cảm giác là nó vẫn đang tồn tại. Tuy nhiên, không một thứ gì có thể tạo cho bản ngã ở trong bạn một cảm giác đầy đủ, trọn vẹn và vững bền.

Rồi một quan hệ luyến ái nào đó của bạn bỗng dưng xuất hiện. Quan hệ đó có vẻ là câu trả lời cho tất cả mọi vấn đề của bản ngã bạn đang có, và đáp ứng được mọi yêu cầu của bản ngã, ít ra là lúc ban đầu. Lúc này mọi thứ trước đây được dùng để tạo ra cảm giác về một cái tôi, một cá thể ở trong bạn không còn quan trọng đối với bạn nữa. Giờ đây bạn có một tiêu điểm thay thế cho mọi cái khác, làm cho cuộc sống của bạn có ý nghĩa hơn, và qua đó mà bạn xác định tư cách của chính mình: đó là người mà bạn “đang yêu”. Bạn bây giờ không còn là một mảnh rời rạc trong một vũ trụ lạnh lẽo, ít ra bạn cũng tưởng như thế. Thế giới của bạn giờ đây có một tâm điểm mới: người mà bạn đang yêu. Sự kiện là tâm điểm đó vốn ở bên ngoài bạn và do đó cảm nhận về tự thân bạn cũng xuất phát từ bên ngoài, thoạt đầu chưa trở thành vấn đề đối với bạn. Vấn đề là bạn không còn cảm thấy các đặc điểm của bản ngã như là nỗi sợ hãi, hay cái cảm giác thiếu thốn, bất toàn ở trong bạn nữa – nhưng chưa chắc. Chúng thực sự đã biến mất hay vẫn còn tồn tại bên dưới cái vỏ hạnh phúc bề ngoài?

Nếu trong quan hệ luyến ái của mình, bạn vừa cảm thấy cả “yêu” và cả những điều trái nghịch như đả kích nhau, giày vò, tra tấn nhau, v.v… thì rất có thể bạn đang lẫn lộn tình yêu với sự vướng mắc của bản ngã và sự bám víu đầy tính nghiện ngập. Bạn không thể lúc này thì rất yêu người bạn gối chăn của mình, còn lúc khác thì chỉ muốn làm tổn thương người đó. Tình yêu đích thực không thể có điều trái nghịch đó. Nếu “tình yêu” của bạn có điều trái nghịch thì đó không phải là tình yêu mà chỉ là một nhu yếu mạnh mẽ của bản ngã, đòi hỏi một cảm nhận về bản ngã toàn diện và sâu sắc hơn, một ham muốn mà người kia tạm thời đang đáp ứng được. Loại “tình yêu” này là cái mà bản ngã muốn dùng để thay thế cho sự giải thoát đích thực, và thoạt tiên thì bạn cảm thấy nó rất giống với sự giải thoát mà bạn đang tìm kiếm.

Nhưng rồi sẽ đến lúc người tình của bạn có cư xử khiếm khuyết với bạn, không còn đáp ứng được nhu cầu của bạn, đúng hơn là nhu cầu của bản ngã ở trong bạn. Lúc đó những cảm giác sợ hãi, đau khổ và thiếu thốn ở trong bạn lâu nay thường bị che đậy bởi “quan hệ yêu đương” bỗng trỗi dậy. Cũng như những cơn nghiện khác, khi sẵn thuốc thì bạn rất phấn khởi, nhưng rồi sẽ đến lúc chất thuốc đó mất tác dụng. Khi những cảm giác đau khổ tái xuất hiện thì bạn sẽ thấy nó còn mạnh hơn trước đây, và thậm chí bạn còn xem người kia là nguyên nhân gây ra đau khổ của bạn. Đó là lúc bạn sẽ không thừa nhận khổ đau sẵn có ấy vốn của bạn, và bạn sẽ phóng chiếu những khổ đau sẵn có ấy ở trong tự thân ra bên ngoài và đả kích người kia không một chút xót thương, để phát tiết bớt nỗi khổ đau của bạn. Sự công kích này có thể đánh thức khối khổ đau sâu nặng có sẵn trong người kia và họ có thể phản ứng lại sự công kích của bạn. Lúc này, bản ngã của bạn vẫn còn mê mờ vì hy vọng rằng bằng cách thao túng hay công kích như thế sẽ có tác dụng buộc người kia phải thay đổi thái độ, qua đó nỗi đau của bạn lại được che lấp thêm lần nữa.

Mỗi sự nghiện ngập đều phát sinh từ cố gắng trong sự thiếu hiểu biết của bạn để chối từ việc đối diện, và đi qua nỗi đau của mình. Sự nghiện ngập nào cũng bắt đầu bằng khổ đau và chấm dứt bằng khổ đau. Dầu bạn nghiện thứ gì: rượu, thức ăn, thuốc men, ma túy, hay một người nào đó – bạn đang dùng thứ đó để che đậy nỗi đau ở trong lòng. Điều này giải thích tại sao, sau những phấn chấn lúc ban đầu, quan hệ luyến ái mà bạn đã đặt rất nhiều kỳ vọng ấy bây giờ lại có quá nhiều bất hạnh và khổ đau. Tự thân của quan hệ luyến ái ấy không hẳn tạo ra nỗi bất hạnh và khổ đau cho bạn. Nhưng một quan hệ luyến ái thực ra chỉ làm bộc lộ rõ ra nỗi đau và bất hạnh đã có sẵn ở trong bạn. Sự nghiện ngập cũng vậy. Bất kỳ sự nghiện ngập nào rồi cũng đến lúc không còn tác dụng nữa, và lúc đó bạn sẽ cảm thấy nỗi đau càng sâu sắc hơn bao giờ.

Đây là lý do tại sao hầu hết mọi người đều cố gắng trốn tránh phút giây hiện tại và tìm kiếm một sự cứu rỗi nào đó trong tương lai. Có lẽ vì biết rằng điều trước tiên họ phải đối diện khi chú tâm vào phút giây hiện tại là tiếp xúc với nỗi đau cũ ở trong mình. Và đây chính là điều mà họ rất sợ phải đối mặt. Ước gì họ biết rằng, chuyện này rất dễ dàng, vì từ phút giây hiện tại, họ có thể tiếp xúc với năng lực của sự có mặt của chính mình, xua đi quá khứ và những nỗi đau cũ, tiếp xúc được một thực tại có thể làm tiêu tan mọi ảo tưởng mê lầm.

Trốn tránh tất cả mọi quan hệ luyến ái để xa lánh khổ đau cũng không phải là một giải pháp đúng đắn. Dầu sao nỗi đau của bạn cũng vẫn còn đó. Đôi ba lần thất bại trong từng ấy năm thì cũng dễ khai mở cho bạn được tỉnh thức hơn là sống ba, bốn năm trên một hoang đảo hay trong một căn phòng kín. Tuy vậy, một khi bạn để sự có mặt sâu sắc của mình tiếp xúc với nỗi cô đơn ở trong mình(6) thì sự thực tập này chắc chắn sẽ giúp cho bạn chuyển hóa được nỗi cô đơn của mình.

—–

 

 

CHUYỂN HÓA MỘT QUAN HỆ NGHIỆN NGẬP SANG MỘT QUAN HỆ ĐÍCH THỰC

 

Chúng ta có thể chuyển hóa một quan hệ nghiện ngập sang một quan hệ đích thực không?

Vâng, được chứ. Bằng cách bạn hãy có mặt và làm mạnh thêm sự có mặt của mình khi bạn chú tâm sâu sắc vào phút giây hiện tại. Điều này rất thiết yếu dù cho bạn sống một mình hay đang sống chung với một người bạn khác phái. Để tình yêu của bạn được nẩy nở, ánh sáng của sự có mặt ở trong bạn phải đủ mạnh để cho bạn không còn bị chiếm hữu bởi con người hay suy tư ở trong bạn hay nỗi đau sâu dày cũ ở trong bạn và nhầm lẫn chúng với chính bản thân bạn. Khi bạn biết được mình chính là sự ung dung tự tại nằm đằng sau con người hay suy nghĩ; biết được mình chính là sự tĩnh lặng đằng sau tiếng ồn ào của lý trí; biết được mình chính là tình yêu và niềm vui sống luôn nằm phía dưới tất cả khổ đau mà bạn đã cưu mang, lúc đó bạn sẽ có tự do, cứu rỗi và giác ngộ. Biết tách mình ra khỏi những nỗi đau sâu dày ở trong mình tức là mang sự hiện diện của bạn vào trong những nỗi đau đó, qua đó, bạn sẽ chuyển hóa được những nỗi khổ đau ấy. Biết tách mình ra khỏi những suy tư, và chỉ làm một người quan sát trong tĩnh lặng tất cả những ý tưởng và hành vi của mình, đặc biệt là những kiểu suy nghĩ lặp đi lặp lại ở trong mình(7) và biết những vai tuồng, nhân vật(8) của bản ngã mình trong những hành vi đó.

Nếu bạn thôi không cung cấp cho lý trí những cái để tạo nên “một tư cách, một cái Tôi”(9), thì lý trí của bạn sẽ không còn tiếp tục những lối hành xử một cách cưỡng bách(10) ở trong bạn nữa. Những lối hành xử cưỡng bách này có thể được biểu hiện như là nhu yếu cần phán xét ở trong bạn(11), qua đó, bạn chống đối những gì đang có mặt trong đời bạn và tạo ra nhiều mâu thuẫn, tạo ra những tấn tuồng(12) và tạo thêm đau khổ cho chính tự thân và cho những người chung quanh. Thực ra, lúc mà bạn thôi phán xét người khác vì đã chấp nhận được những gì đang hiện hữu, bạn đã thoát ra khỏi sự kềm tỏa của lý trí. Bạn đã tạo ra một chỗ đứng cho tình yêu, cho niềm vui và cho niềm an bình ở trong bạn. Trước tiên là bạn thôi không còn phán xét chính mình, và sau đó bạn thôi không còn phán xét kẻ khác. Chất xúc tác tạo thay đổi lớn lao nhất cho bạn, trong một mối quan hệ luyến ái, chính là sự chấp nhận vô điều kiện tất cả những gì liên quan đến người bạn gối chăn của mình, nhất là chấp nhận bản tính, và những khiếm khuyết mà người ấy đang có. Bạn sẽ thực tập để không còn phán xét hay muốn thay đổi người ấy dù chỉ một phần nhỏ. Thực tập đó sẽ lập tức đưa bạn thoát ra khỏi sự khống chế của bản ngã của bạn ngay. Tất cả mọi trò chơi lý trí và tất cả mọi bám víu, nghiện ngập ở trong bạn rồi sẽ qua đi. Bạn sẽ không còn muốn làm một nạn nhân trong quan hệ luyến ái này cũng như không muốn truy tìm thủ phạm, không có người tố cáo cũng như kẻ bị cáo. Đây là hồi kết thúc của sự phụ thuộc lẫn nhau trong quan hệ luyến ái của bạn. Bạn sẽ không còn bị cuốn hút vào những mê lầm, vô minh của người kia và làm cho những mê lầm, vô minh ấy tiếp tục tồn tại. Lúc đó, nếu cần chia tay, bạn sẽ chia tay trong tình bạn, hoặc là sẽ đến thực lòng với nhau trong tình yêu chân chính, cùng nhau tiến sâu vào phút giây hiện tại – vào trạng thái an nhiên tự tại. Đơn giản vậy ư? Vâng, chỉ đơn giản vậy thôi.

Lòng trắc ẩn là một trạng thái của ung dung tự tại. Lòng trắc ẩn của bạn không phải ở bên ngoài, mà ở sâu trong bạn. Bạn không bao giờ đánh mất lòng trắc ẩn đó và nó cũng không thể rời xa bạn. Lòng trắc ẩn đó không phụ thuộc vào một thân thể hay một hình tướng bên ngoài nào khác. Trong tĩnh lặng của sự có mặt của bạn, bạn có thể cảm nhận được một thực tại không hình tướng và vượt thoát thời gian của chính bạn như là sự sống Vô Tướng, cái làm chuyển động tấm hình hài vật chất của bạn. Từ đó bạn có thể cảm nhận sự sống đó sâu lắng trong người khác và mọi sinh vật khác. Bạn nhìn vượt lên trên tấm màn che của hình tướng và sự phân cách. Đây là sự chứng ngộ về Nhất Thể(13). Đây chính là lòng trắc ẩn.

Thượng Đế là gì? Là Đời Sống Nhất Thể bất diệt, ẩn sau tất cả mọi thể sống. Lòng trắc ẩn là gì? Là cảm nhận sự có mặt của Đời Sống Nhất Thể đó nằm sâu trong bạn và trong tất cả những sinh vật khác. Hãy là sự sống đó. Do đó, tất cả lòng trắc ẩn chính là tình yêu Thượng Đế.

—–

Lòng trắc ẩn – Đại Bi Tâm – không có sự phân biệt, cũng như ánh sáng mặt trời không phân biệt một ai. Nó không làm người nào, vật nào đặc biệt hơn. Nó cũng không phải là thứ tình yêu chỉ dành riêng cho một người. Lòng trắc ẩn dành riêng cho ai đó không phải là tình yêu của Thượng Đế mà là tình yêu của bản ngã. Tuy nhiên, tình yêu đích thực có thể được cảm nhận với mức độ mạnh mẽ khác nhau. Có thể tình yêu của bạn được phản ảnh bởi một người nào đó rõ ràng và mạnh mẽ hơn so với những người khác và nếu người đó cảm nhận giống như thế đối với bạn thì có thể nói rằng bạn có một mối quan hệ yêu đương với người đó. Ở đây mối liên hệ ràng buộc bạn với người đó cũng giống như mối liên hệ ràng buộc bạn với một người bạn ngồi chung trên một chuyến xe buýt, với một con chim, với một bụi cây hay với cành hoa. Điều khác biệt chỉ là cường độ cảm nhận của bạn sẽ có mức độ khác nhau trong mỗi quan hệ.

Ngay cả trong một mối quan hệ nghiện ngập, sẽ có lúc có một cái gì đó rất thực chiếu xuyên qua những hệ lụy của loại quan hệ này, điều đó có thể vượt lên trên những nhu cầu gây nghiện cho nhau. Đó là lúc lý trí của cả hai người tạm thời lắng xuống và khối khổ đau sâu đậm trong mỗi người tạm thời ngủ yên. Điều này thỉnh thoảng xảy ra trong khi bạn đang âu yếm, thân mật với nhau, hay trong khi bạn chứng kiến phút giây sinh nở kỳ diệu, hoặc đứng trước sự hiện diện của cái chết, hay trong một cơn bệnh ngặt nghèo, hay bất kỳ những điều gì làm cho lý trí của bạn chịu đầu hàng. Khi điều này xảy ra, Bản Chất chân thực của bạn, thường bị chôn sâu dưới những hoạt náo của lý trí, bỗng nhiên được phơi bày ra, làm cho sự truyền thông chân thật có cơ hội được xảy ra.

Sự truyền thông chân thật chính là sự hòa đồng để trở thành một – sự nhận thức được tính Nhất Thể đó cũng chính là lòng trắc ẩn. Thường thì điều này bị biến mất nhanh chóng trừ phi bạn có khả năng hiện diện đủ mạnh để không bị lý trí và những kiểu hành xử theo thói quen cũ của trí năng chi phối. Ngay khi trí năng và thói quen cho rằng tôi chỉ là những ý nghĩ hay cảm xúc tiêu cực ở trong tôi trở lại, bạn sẽ không còn là chính mình nữa mà chỉ là một hình ảnh tượng trưng của lý trí của mình mà thôi, và bạn lại bắt đầu những trò chơi, hay đóng những vai tuồng để đáp ứng những nhu cầu của bản ngã bạn. Lúc đó bạn lại trở thành một khối suy tư mang dáng dấp của một con người, giao tiếp với những khối suy tư khác để diễn tuồng kịch gọi là “yêu đương”.

Dầu có những phút giây thoát qua ngắn ngủi, tình yêu sẽ không thể nẩy nở được ngoại trừ khi bạn thoát ly vĩnh viễn khỏi sự khống chế của trí năng và có sự hiện diện đủ mạnh của mình để hóa giải hết khối khổ đau sâu dày – hoặc ít ra, bạn cũng làm một chứng nhân, yên lặng quan sát những gì đang xảy ra ở trong mình. Lúc đó khối khổ đau sâu kín ở trong bạn mới không còn chế ngự được bạn nữa và không biến bạn thành một kẻ phá hoại tình yêu.

—–

 

HÃY DÙNG QUAN HỆ LUYẾN ÁI ĐỀ RÈN LUYỆN TÂM LINH(14)

 

Khi lối nhận thức vị kỷ và tất cả những cấu trúc xã hội, chính trị, kinh tế… mà bản ngã của chúng ta đã tạo ra đi vào giai đoạn sụp đổ cuối cùng thì quan hệ giữa đàn ông và đàn bà sẽ phản ảnh trọn vẹn tình trạng khủng hoảng sâu sắc mà con người đang phải đối mặt. Vì nhân loại càng ngày càng đồng nhất mình với lý trí(15), hầu hết những quan hệ luyến ái giữa nam và nữ thường không có gốc rễ trong trạng thái an nhiên tự tại, cho nên những quan hệ luyến ái thường là nơi phát sinh ra khổ đau, càng ngày càng gặp phải nhiều vấn đề và mâu thuẫn.

Giờ đây hàng triệu người đang sống một mình, hoặc đơn thân làm bố hoặc mẹ. Họ không thể xây dựng được một quan hệ luyến ái hay không mong muốn lặp lại những tấn tuồng(16) qua những quan hệ luyến ái một cách điên rồ như trong quá khứ. Nhiều người khác thì đi từ quan hệ luyến ái này đến quan hệ luyến ái khác, từ chu kỳ khoái-lạc-rồi-khổ-đau-nàyđến chu kỳ khoái-lạc-rồi-khổ-đau khác, mong đạt được một mục tiêu quá mông lung, để mong có sự hợp nhất với năng lượng đối cực với người khác phái. Một số khác thì chịu thỏa hiệp và tiếp tục chung sống lê thê với nhau trong một quan hệ đã bị tha hóa, với nhiều sự thắng thế của những năng lượng tiêu cực; họ tiếp tục sống một cách chịu đựng với nhau chỉ vì con cái, hay chỉ để được yên ổn, hoặc do áp lực của thói quen, vì sợ phải đối diện với cô đơn, hay phải ở một mình, hay do một sự sắp xếp nào đó để đôi bên cùng “có lợi”, hay ngay cả do sự nghiện ngập nhau, một cách không ý thức, nghiện ngập những cảm xúc mạnh mẽ gây ra bởi những tấn tuồng cảm xúc và khổ đau(17).

Tuy nhiên, khủng hoảng nào cũng đưa đến nguy cơ và đó cũng chính là một cơ hội tốt. Nếu quan hệ luyến ái nào cũng làm gia tăng sức mạnh và phóng đại những khuôn mẫu phản ứng đầy tính lý trí và bản ngã(18), hay kích động nỗi đau sâu kín ở trong ta, thì tại sao chúng ta không chấp nhận sự thực hiển nhiên này thay vì tìm cách chạy trốn chúng? Tại sao ta không tìm cách hợp tác với nó thay vì trốn tránh các quan hệ luyến ái này hay tiếp tục mơ mộng, đeo đuổi một ảo tưởng rằng, ở đâu đó, có một người bạn gối chăn rất lý tưởng, đang đợi chờ mình, chỉ để mong tìm ra một câu trả lời cho tất cả những vấn đề mình đang gặp phải, hoặc coi sự đeo đuổi đó như là một phương tiện để cho mình cảm thấy thỏa mãn? Mỗi cơ hội, ẩn giấu đằng sau mọi cuộc khủng hoảng của bạn, sẽ không lộ diện cho đến khi nào tất cả các sự kiện, của bất kỳ tình huống nào bạn đang gặp phải, được thừa nhận và chấp nhận một cách hoàn toàn. Chừng nào mà bạn còn chối bỏ, còn cố chạy trốn hay ước mong mọi việc sẽ khác đi,… cánh cửa cơ hội của bạn sẽ không được mở ra, và bạn vẫn bị mắc kẹt trong tình huống đó, một tình huống mà sẽ không có hy vọng gì để thay đổi, thậm chí có thể ngày càng trầm trọng hơn.

Khi bạn thừa nhận và chấp nhận các sự kiện, lúc đó bạn sẽ thoát khỏi chúng. Ví dụ, khi bạn biết bạn đang có bất hòa và bạn duy trì “cái biết” đó, khi đó sẽ có một nhân tố mới xuất hiện và sự bất hòa đó không thể không đổi thay. Khi bạn biết mình đang có sự bất an, cái biết đó tạo nên một khoảng không tĩnh lặng bao quanh cái không bình an của bạn bằng một vòng ôm dịu dàng và trìu mến rồi chuyển hóa sự bất an đó thành sự bình an. Khi nói về sự chuyển hóa ở bên trong, bạn không thể làm được gì cả ngoài việc thực tập chuyển hóa cho chính mình, vì chắc chắn bạn sẽ không thể chuyển hóa người bạn gối chăn của mình hay một ai khác. Điều mà bạn có thể làm là tạo ra không gian cho sự chuyển hóa đó có thể xảy ra, cho ân sủng và tình yêu đi vào.

—–

 

Vì vậy, khi nào quan hệ luyến ái của bạn không được xuôi thuận, khi nào quan hệ đó chỉ làm bạn hay người kia “nổi điên” thì bạn cũng đừng lấy đó làm chuyện buồn lòng. Vì những gì mê lầm của bạn trước đây đang được đưa ra ánh sáng. Đó là cơ hội để bạn được giải thoát. Trong mỗi phút giây, lúc nào bạn cũng phải biết là, trong phút giây đó, tâm trạng của bạn ở bên trong đang như thế nào. Nếu bạn đang có cảm xúc giận dữ, hãy biết rằng bạn đang có cảm xúc giận dữ. Nếu bạn đang cảm thấy ghen tuông, chống chế, thích tranh cãi, muốn tranh giành phần đúng về mình, hay có một đứa bé ở trong bạn đang vòi vĩnh, đòi hỏi bạn hay người khác phải chú tâm đến nó, hay bạn đang có một cảm xúc khổ đau – hoặc bất kỳ trạng thái tình cảm nào – hãy biết rằng bạn đang có một cảm xúc như thế ở trong lòng và bạn hãy cố duy trì nhận thức rõ ràng về tình trạng đó. Lúc đó quan hệ luyến ái của bạn sẽ trở thành “sadhana”, một thực tập giúp bạn rèn luyện tâm linh. Khi bạn quan sát những hành vi mê mờ ở người bạn gối chăn của mình, hãy giữ nhận thức đó trong một sự hiểu biết đầy bao dung ở trong bạn để bạn không còn thấy cần thiết để phải có một phản ứng. Mê mờ và hiểu biết là hai thứ không thể cùng tồn tại lâu dài với nhau ở trong bạn, cho dù sự hiểu biết ấy chỉ nằm ở một trong hai người. Thứ năng lượng nằm đằng sau sự thù địch và sự đả kích luôn cảm thấy sự có mặt của tình yêu và lòng bao dung ở trong bạn là một điều mà những năng lượng tiêu cực ấy không thể nào chấp nhận được. Do đó nếu bạn đi phản ứng lại với những sai lầm của người kia, thì chính bạn cũng trở nên mê mờ. Nếu lúc đó bạn, vì thiếu ý thức, bạn đã lỡ phản ứng, thì bạn chỉ cần nhận ra rằng “ồ, mình vừa có một phản ứng ngoài ý muốn của mình” thì bạn sẽ lấy lại được ngay sự quân bình ở trong mình.

Nhân loại đang ở dưới một áp lực lớn để phải tiến hóa vì đây là cơ hội duy nhất cho loài người có thể tồn tại. Điều này sẽ ảnh hưởng đến tất cả mọi khía cạnh của đời sống của bạn, đặc biệt là những quan hệ luyến ái gần gũi. Chưa bao giờ các quan hệ luyến ái lại lắm vấn đề và đầy rẫy những xung đột như bây giờ. Hẳn bạn đã thấy, những quan hệ ấy có mặt không phải để làm cho bạn vui hay thỏa mãn. Nếu bạn mong dùng một quan hệ luyến ái để giúp mình đeo đuổi một mục tiêu giải thoát hay cứu rỗi, bạn sẽ bị vỡ mộng. Nhưng nếu bạn chấp nhận rằng một quan hệ luyến ái thực ra là chỉ để giúp cho bạn nhận thức rõ hơn về chính mình, thay vì làm cho bạn được hạnh phúc, thì lúc đó quan hệ luyến ái mới có thể giúp cho bạn đến với sự cứu rỗi và lúc đó bạn mới phù hợp với tầng nhận thức cao hơn, tâm thức ấy đang bắt đầu đến một giai đoạn cần phải được sinh ra trong thế giới này(19). Đối với những người vẫn còn cố bám vào những khuôn mẫu cũ, hay cách hành xử cũ,… càng ngày họ sẽ càng gặp phải nhiều đau khổ, bạo lực, rối ren và điên cuồng hơn.

Tôi cho rằng phải cả hai người cùng thực tập thì mới đưa một quan hệ luyến ái thành một thực tập tâm linh như ông đã đề nghị. Ví dụ, người bạn trai của tôi vẫn còn hành xử theo những kiểu cách ghen tuông và trấn áp trước đây. Nhiều lần tôi đã nêu ra vấn đề này, nhưng anh ấy vẫn không thể hiểu được.

Bạn cần mấy người thì mới chuyển đổi được cuộc sống của bạn thành một thực tập tâm linh? Bạn đừng lo rằng người bạn gối chăn của mình sẽ không chịu hợp tác. Sự tỉnh thức sẽ từ chính bạn mà đi vào thế giới này. Bạn không cần phải đợi đến lúc cả thế giới tỉnh thức, hay một ai đó trở nên có ý thức, thì bạn mới đạt được giác ngộ. Vì như thế có thể bạn sẽ phải chờ đợi mãi mãi. Đừng nên cáo buộc nhau là người kia đang mê lầm. Khi nào bạn bắt đầu một cuộc tranh luận, là bạn đã bám vào một quan điểm, đồng nhất và cho rằng bạn chính là quan điểm nào đó của lý trí bạn, và bạn không những đang bảo vệ cho quan điểm đó mà còn bảo vệ cho cảm nhận về một cái Tôi – bản ngã của mình. Lúc đó bản ngã của bạn đang thao túng. Và bạn đã trở nên thiếu hiểu biết, không còn biếtmình đang nói gì, làm gì. Những lúc khác, có khi sẽ thích hợp cho bạn để nêu ra những khía cạnh khiếm khuyết nào đó trong hành vi của người bạn gối chăn của mình, nếu bạn thực tỉnh táo, và có mặt một cách sâu sắc mà không để bản ngã của bạn can dự vào – tức là không có sự trách cứ, cáo buộc, hay cho người kia là sai.

Khi người bạn gối chăn của mình cư xử một cách thiếu hiểu biết, xin bạn đừng phán xét. Vì phán xét tức là bạn hoặc lẫn lộn hành vi thiếu hiểu biết của người ấy với con người chân thực của họ, hoặc bạn phán xét tức là phóng chiếu sự thiếu hiểu biết của chính mình lên trên người kia và nhầm lẫn khi cho “cái đó” chính là con người chân thực của họ. Từ bỏ sự phán xét đối với người khác không có nghĩa là bạn sẽ không còn khả năng nhận thức ra được sự tha hóa hay thiếu hiểu biết của người khác khi bạn gặp phải những hành vi như thế. Đây chỉ là bạn “chọn làm một con người hiểu biết” hơn là một “con người hay phản ứng” hay một vị quan tòa. Lúc ấy, bạn sẽ hoàn toàn thoát ly khỏi mọi phản ứng hoặc bạn vẫn còn một ít phản ứng, nhưng vẫn duy trì được trạng thái tỉnh thức, tức là không gian trong đó mọi phản ứng được quan sát và cho phép được diễn ra. Thay vì phải chiến đấu với bóng tối, ta mang ánh sáng vào. Thay vì phản ứng với giả dối, bạn nhìn ra sự giả dối và đồng thời nhìn xuyên qua nó. Là sự hiểu biết, bạn tạo ra một không gian khoáng đạt cho sự hiện diện đầy yêu thương của bạn có mặt, qua đó, bạn cho phép mọi vật và mọi người được hiện hữu với bản chất đích thực của mình. Điều này sẽ tạo nên một chất xúc tác cho sự chuyển hóa, không thể nào mạnh hơn thế nữa. Nếu bạn làm được điều này, người bạn gối chăn của bạn, không thể vừa tiếp tục quan hệ luyến ái với bạn, mà lại vừa tiếp tục hành xử trong sự thiếu hiểu biết.

Nếu cả hai người chịu dùng quan hệ luyến ái của mình để thực tập tâm linh thì càng tốt. Khi bạn có một ý tưởng, cảm xúc, hay phản ứng nào vừa nảy sinh, bạn có thể bày tỏ cho nhau ngay. Làm thế này, bạn sẽ không tạo ra một khoảng trống thời gian cho những xúc cảm hay những bất bình, không được thừa nhận hay không được nói ra này, có chỗ để đâm chồi và nảy nở ở trong bạn. Hãy học cách bày tỏ những gì mình cảm nhận mà không cần phải trách móc(20). Hãy học cách lắng nghe nhau một cách cởi mở và không e dè. Hãy để cho người bạn gối chăn của mình một cơ hội để người đó tự bày tỏ mình. Hãy có mặt. Lúc ấy những cáo buộc, chống chế, đả kích – tất cả những kiểu cách cư xử mà bạn thường dựng lên để củng cố hay bảo vệ bản ngã hay để đáp ứng những nhu cầu của nó đều trở nên thừa thãi. Không gian là điều tối cần cho người kia, và cho chính bạn. Tình yêu không thể nảy nở được nếu không có không gian. Khi bạn loại trừ được hai nhân tố thường gây nên đổ vỡ trong quan hệ luyến ái – tức là:

  1. Chuyển hóa được khối khổ đau sâu nặng của quá khứ ở trong mình, và
  2. Bạn thôi không còn cho rằng mình chính là lý trí và những quan điểm của mình.

Và khi cả hai người cùng làm được như thế, khi đó bạn sẽ kinh nghiệm được niềm hoan lạc lớn lao, và sự nở hoa trong quan hệ luyến ái của mình. Thay vì phản hồi nỗi đau và sự mất nhận thức của nhau, thay vì thỏa mãn những nhu cầu có tính chất gây nghiện của bản ngã ở trong nhau, bạn sẽ phản hồi cho nhau tình yêu được cảm nhận sâu xa từ bên trong, thứ tình yêu xuất phát từ nhận thức về sự hợp nhất của bạn với hiện hữu. Đấy là thứ tình yêu không có sự đối nghịch.

Nếu người bạn gối chăn của mình vẫn còn đồng nhất chính họ với lý trí và khối khổ đau sâu nặng của quá khứ(21), thì sẽ có một thử thách lớn – không phải cho bạn mà là cho người kia. Sống với một người đã tỉnh thức thực chẳng dễ dàng gì, hay nói đúng hơn, là bản ngã của bạn sẽ gặp phải sự đe dọa lớn lao khi phải sống bên cạnh một người đã tỉnh thức. Hãy nhớ rằng bản ngã của bạn luôn cần có những rắc rối, xung đột và “kẻ thù” để bản ngã được tự củng cố cảm giác chia cách ở bên trong, trong đó nhân cách của nó được phụ thuộc vào. Tâm trí của người bạn gối-chăn-chưa-được-giác-ngộ của bạn sẽ rất bất mãn vì những quan điểm cố chấp của người đó không được bạn chống đối lại, điều này sẽ làm cho lý trí của người đó trở nên lung lay và mong làm đánh mất “cái Tôi” của người đó. Khối khổ đau sâu nặng của quá khứ của người đó luôn đòi hỏi được bạn phản ứng, hồi đáp với nó và nó không nhận được sự phản hồi đó từ bạn. Người đó muốn có một sự tranh chấp, bi kịch và xung khắc với bạn cũng không được bạn đáp ứng. Nhưng hãy coi chừng: có những người rất dửng dưng, thu mình, thiếu nhạy cảm hay không còn cảm nhận được những cảm xúc ở trong họ, họ có thể cố thuyết phục người khác rằng họ đã giác ngộ, hoặc ít ra là họ “không có vấn đề gì” cả và luôn muốn quy kết mọi cái sai cho người bên kia. Đàn ông thường có xu hướng làm như thế hơn là phụ nữ. Có thể họ cho người bạn gái của mình là yếu đuối và vô lý. Nếu bạn có khả năng để cảm nhận được những cảm xúc của mình thì bạn không còn cách xa cơ thể năng lượng sáng chói ở bên trong của bạn là bao. Nhưng nếu bạn thường chỉ sống chủ yếu bằng cái đầu, thiên về trí óc nhiều hơn là tình cảm, thì khoảng cách đó càng lớn hơn, và bạn cần thực tập đưa nhận thức trở về với những cảm xúc của mình trước khi có thể đi vào cơ thể bên trong.

Một người tỉnh thức thì tự nhiên dễ dàng có được lòng trắc ẩn và niềm vui với tất cả mọi người, nếu bạn không có mặt hoàn toàn và cởi mở với tất cả mọi loài thì đó không phải là giác ngộ. Một dấu hiệu khác của một người tỉnh thức là cách người đó cư xử khi có chuyện trục trặc hoặc trong những tình huống khó khăn, thử thách. Nếu “sự giác ngộ” của bạn chỉ là sự tự lừa dối mình và có đầy tính bản ngã, thì cuộc đời sẽ nhanh chóng tạo ra cho bạn một thách thức để bộc lộ rõ những vô minh vẫn còn ở trong bạn, dưới những hình thức như: sợ hãi, dễ nổi giận, thích chống chế, phán xét, trầm cảm, v.v… Nếu bạn đang ở trong một quan hệ luyến ái, nhiều thách thức cho bạn sẽ đến từ phía người kia. Ví dụ, một người phụ nữ có thể bị thách thức bởi một người bạn trai hờ hững, lãnh đạm, một người hầu như luôn chìm vào suy tưởng. Thế giới đối với người đó chỉ quanh quẩn, hạn hẹp ở trong chiếc đầu của mình. Cô ấy có thể bị thách thức bởi người bạn trai không có khả năng để lắng nghe được cô ấy, quan tâm đến cô ấy và cho không gian để cô ấy được là cô ấy, chỉ vì anh ta không thường giữ được sự có mặt của mình. Phụ nữ thường nhạy cảm với sự thiếu vắng tình yêu trong một quan hệ luyến ái hơn là đàn ông, khi đó khối khổ đau sâu nặng của quá khứ ở trong người phụ nữ sẽ bị đánh thức dậy và qua đó cô ta sẽ công kích, trách móc, phê bình, nói xấu, v.v… về người bạn trai của mình. Điều này, ngược lại trở thành một thử thách đối với anh ta. Để tự bảo vệ mình khỏi sự đả kích của khối khổ đau sâu nặng của cô bạn gái, mà anh ta xem là hoàn toàn không xác đáng, anh ta sẽ biện minh, tự vệ, hay phản ứng, qua đó càng củng cố lấy quan điểm của mình. Rốt cuộc, điều này lại có thể kích thích chính nỗi khổ đau sâu kín của quá khứ ở trong anh ta. Khi cả hai đều bị thao túng bởi khối khổ đau sâu nặng của quá khứ, sẽ có lúc họ lún sâu vào tình trạng vô minh sâu đậm, sẽ có sự bạo hành về mặt cảm xúc, hay đả kích nhau một cách tàn nhẫn. Khi cả hai khối khổ đau trong mỗi người đã được nuôi lớn, no đủ qua những lần gây gổ như thế, nó sẽ trở về trạng thái im lìm, thì những xung đột này tạm lắng xuống. Chúng sẽ đợi đến lần sau.

Đây chỉ là một trong vô số màn kịch có thể xảy ra. Người ta đã viết nhiều sách, và sẽ viết thêm nhiều nữa, về những phương cách thể hiện của sự thiếu hiểu biết trong quan hệ luyến ai nam-nữ. Nhưng, như tôi đã nói, một khi bạn đã hiểu rõ bản chất của sự tha hóa, thì bạn không cần phải tìm hiểu về vô số những biểu hiện khác của nó.

Hãy nhìn lại một tí cái màn kịch tôi vừa mô tả. Mỗi một thách thức trong đó đều thực sự ẩn giấu một cơ hội cứu rỗi đã được trá hình. Ở từng giai đoạn của quá trình bộc lộ của sự tha hóa, cơ hội để cho bạn thoát ra khỏi sự vô mình là điều rất dễ xảy ra. Ví dụ, thái độ thù địch của người phụ nữ có thể là dấu hiệu cho người đàn ông biết để thoát ra khỏi tình trạng đồng nhất mình với những suy tư hay cảm xúc tiêu cực ở trong mình, tỉnh thức để đi vào phút giây hiện tại, trở nên có mặt – thay vì càng bị đồng nhất với lý trí, càng đánh mất nhận thức. Thay vì trở thành nỗi đau sâu nặng của quá khứ, người phụ nữ có thể trở nên một người hiểu biết, quan sát một cách yên lặng những cảm giác đau đớn trong chính mình, qua đó mà tiếp xúc được năng lực của phút giây hiện tại và bắt đầu chuyển hóa khổ đau của mình. Điều này sẽ xóa tan những khuynh hướng phản ứng một cách tự động, và bó buộc, muốn phóng chiếu nỗi đau của mình ra bên ngoài. Người phụ nữ có thể học cách bày tỏ cảm nghĩ của mình với người bạn trai. Tất nhiên là không có gì đảm bảo là anh ta sẽ lắng nghe, nhưng điều này sẽ cho người đàn ông một cơ hội tốt để trở nên có mặt và phá vỡ được sự bộc phát của những khuôn mẫu cư xử, và những thói quen cũ của trí năng trong anh ta. Nếu người phụ nữ không nắm được cơ hội đó, thì người đàn ông có thể nắm lấy cơ hội đó bằng cách quan sát những phản ứng về lý trí và tình cảm của mình, xem cách mà mình chống chế, thay vì phản ứng với nỗi đau của người phụ nữ. Rồi anh ta sẽ quan sát xem nỗi đau sâu kín ở trong mình đã bị kích thích như thế nào để từ đó đưa nhận thức sáng tỏ của mình chiếu soi vào những cảm xúc đó ở trong mình. Khi làm như thế, một không gian sáng tỏ và tĩnh lặng của nhận thức thuần túy sẽ xuất hiện, đó chính là trạng thái hiểu biết, là người quan sát trong yên lặng, là chứng nhân có mặt ở trong bạn. Nhận thức này sẽ không chối bỏ khổ đau, ngược lại nhận thức ấy sẽ vượt lên trên khổ đau, tạo điều kiện cho khổ đau được có mặt và đồng thời chuyển hóa niềm đau đó. Nhận thức sáng tỏ đó chấp nhận mọi thứ và chuyển hóa tất cả mọi thứ. Một cánh cửa hẳn là sẽ mở ra cho người phụ nữ, qua đó cô ta có thể dễ dàng tham dự với người đàn ông trong một không gian mới.

Nếu bạn là một người luôn có mặt hay thường có mặt hơn trong một quan hệ luyến ái, thì điều này sẽ là một thử thách lớn cho người bạn gối chăn của mình. Vì người ấy không thể vừa chịu được sự có mặt của bạn trong một thời gian lâu dài mà người đó vẫn cứ hành xử một cách thiếu hiểu biết. Nếu người ấy đã sẵn sàng để thức tỉnh, họ sẽ bước qua cánh cửa mà bạn đã mở cho họ, và cùng tham dự với bạn trong trạng thái có mặt. Còn không thì hai người sẽ như dầu với nước, không thể dung hòa với nhau. Ánh sáng của nhận thức quả là quá đau đớn đối với những ai còn mong ở mãi trong bóng tối.

—–

VÌ SAO PHỤ NỮ DỄ ĐI ĐẾN GIÁC NGỘ HƠN ĐÀN ÔNG?

 

Những chướng ngại để đi đến giác ngộ của phụ nữ có giống như của đàn ông không?

Vâng, nhưng chỉ khác vài điểm. Nói chung, phụ nữ dễ cảm nhận được những cảm xúc phát sinh ở trong mình và an trú ở trong cơ thể của họ dễ dàng hơn, vì thế tự nhiên họ dễ đi vào trạng thái ung dung tự tại hơn và có khả năng dễ đi đến giác ngộ hơn là đàn ông. Đây là lý do tại sao nhiều nền văn minh cổ chọn những nhân vật hay hình tượng phụ nữ để đại diện hay mô tả về thực tại vô hình tướng và vượt thoát. Người nữ thường được xem như người mẹ khai sinh ra mọi vật, duy trì và nuôi dưỡng chúng suốt thế giới hữu hình. Trong cuốn “Đạo Đức Kinh”, một trong những cuốn sách cổ và thâm thúy nhất, “Đạo” có thể được dịch là Hiện Hữu, được mô tả là “cái hiện tại nguyên thể và vĩnh hằng, là mẹ của vũ trụ”. Tự nhiên, phụ nữ gần với giác ngộ hơn đàn ông vì họ gần như là “hiện thân của” Vô Tướng. Còn gì khác hơn là rốt cuộc, tất cả tạo vật và mọi thứ đều sẽ quay trở về Nguồn. “Mọi thứ rồi sẽ tan trở lại vào trong Đạo, chỉ có Đạo là luôn luôn bền vững”. Vì Nguồn được xem như là thuộc về nữ giới, điều này được biểu hiện như là hai mặt sáng và tối của biểu tượng giống Cái có tính nguyên hình trong tâm lý học và khoa thần thoại học. Vị Nữ thần hay Đức Mẹ có hai khía cạnh: Người tạo ra cuộc sống và lấy đi cuộc sống.

Khi lý trí chế ngự và con người đánh mất thực tại về bản chất thần thánh của mình, họ bắt đầu nghĩ về Thượng Đế như là một nhân vật có nam tính. Xã hội trở thành phụ hệ và phụ nữ bị biến thành những thứ phụ thuộc đối với đàn ông.

Tôi không có ý đề nghị rằng chúng ta nên quay về thời kỳ mẫu hệ trước đây, hay thời kỳ mà nữ giới đại diện cho những gì thiêng liêng. Ngày nay, nhiều người đang dùng từ Đức Mẹ, hay để nói về Thượng Đế, Trời Phật. Họ đang cố khôi phục lại sự quân bình giữa nam và nữ đã bị đánh mất từ lâu, và đó là một điều tốt. Nhưng đó chỉ là biểu tượng và cũng chỉ là một khái niệm mà thôi, nó có thể tạm thời có ích, như một tấm bản đồ hay bảng chỉ đường, nhưng khi ta đã chuẩn bị để nhận chân thực tại vượt thoát mọi khái niệm và biểu tượng thì đây lại là một chướng ngại gây cản trở hơn là có tác dụng tốt. Một điều vẫn đúng là tần số năng lượng của lý trí cơ bản vẫn là thuần nam tính. Lý trí cưỡng lại, giành giật, kiểm soát, thao túng, đả kích, thu phục, sở hữu, v.v… Điều này giải thích tại sao, theo kinh Cựu Ước của Đạo Ki-tô, thì Thượng Đế là một nhân vật nam, có quyền uy kiểm soát, một người thường hay nổi giận, và ta nên kính sợ. Đây chỉ là một hình ảnh Thượng Đế được tạo dựng nên do sự phóng chiếu của lý trí của con người.

Để vượt lên trên lý trí và tiếp xúc lại được với thực tại sâu xa của an nhiên tự tại ở bên trong, bạn cần đến những phẩm chất rất khác như: chấp nhận mọi thứ, không xét đoán, một sự cởi mở để cho phép đời sống tự thể hiện thay vì cưỡng lại đời sống, khả năng ôm ấp mọi thứ trong sự bao dung, đầy yêu thương của sự hiểu biết ở trong bạn. Tất cả những phẩm chất này đều liên quan mật thiết đến nguyên lý Âm hơn. Trong khi năng lượng của lý tr&

Thông thường, một người phụ nữ dễ bị kềm chế bởi khối khổ đau sâu dày của quá khứ ở trong mình khi nó bị đánh thức dậy. Khối khổ đau đó tích lũy một dòng năng lượng cực mạnh đế nỗi nó dễ dàng đưa bạn vào trạng thái nhất thể hóa, khi thiếu hiểu biết cho rằng mình chính là khối khổ đau đó. Lúc đó bạn sẽ bị chiếm lĩnh bởi một trường năng lượng cực mạnh xâm chiếm bạn, xâm nhập vào không gian bên trong bạn và thường xuyên giả vờ khuyến dụ bạn rằng khổ đau đó chính là bạn(23) – tất nhiên là khối khổ đau sâu dày đó không thể nào là bạn được. Khổ đau ấy thường phát biểu qua bạn, hành động qua bạn, suy nghĩ qua bạn. Khối khổ đau ấy sẽ tạo ra những tình huống tiêu cực trong đời sống của bạn để nó có thể nhận được thêm năng lượng nuôi sống chính nó(24). Khổ đau ấy luôn muốn bạn có thêm những đau khổ mới, dưới bất cứ hình thức nào. Tôi đã nói về quá trình này rồi. Khối khổ đau ấy có thể rất dữ dội và tàn phá. Nhưng nó chỉ là một nỗi đau lớn, một nỗi đau cũ của quá khứ – và nó nhất quyết không phải là bạn.

Số phụ nữ ngày nay đang đạt đến trạng thái tỉnh thức hoàn toàn đã nhiều hơn so với đàn ông, và con số này sẽ gia tăng nhanh hơn trong những năm sắp đến. Sau đó, có thể phía đàn ông cũng bắt kịp, nhưng trong một thời gian tương đối khá dài, sẽ có một khoảng cách lớn giữa số lượng người tỉnh thức phía đàn ông so với phía phụ nữ. Người phụ nữ đang phục hồi lại chức năng hiển nhiên, thiên bẩm của họ. Và vì thế chức năng dễ đạt đến giác ngộ đó đến với người phụ nữ là một nhịp cầu giữa thế giới hình tướng và thế giới Vô Tướng, giữa vật chất và linh hồn. Công việc chính của một người phụ nữ trong thời điểm này là chuyển hóa khối khổ đau sâu dày của quá khứ ở trong mình để nó không còn đứng chắn giữa bạn và những gì chân thật nhất của bạn: Đó là bản chất cao quý của con người bạn. Tất nhiên là bạn cũng còn phải đối mặt với những trở lực khác trong con đường đi đến giác ngộ, đó là cái đầu luôn suy nghĩ miên man ở trong bạn. Nhưng thực tập để cho sự có mặt của mình càng ngày càng mạnh mẽ khi phải đối diện với sự bùng nổ của khối khổ đau của quá khứ cũng giải thoát bạn khỏi phải đồng nhất với trí năng, sai lầm khi cho rằng bạn chỉ là những lo lắng, suy tư tiêu cực ở trong mình.

Điều trước tiên mà bạn cần nhớ là: chừng nào mà bạn còn cho mình chính là những khổ đau ở trong mình, bạn sẽ không thoát ra khỏi những khổ đau đó. Chừng nào mà tư cách của bạn, cảm nhận về chính mình còn dính dáng hay vẫn còn được đầu tư vào những đau buồn trong tình cảm (buồn, giận, thương xót, bi ai,…) ở trong bạn thì lúc đó bạn sẽ không có ý thức khi chống lại hay phá hoại mọi nỗ lực của chính bạn nhằm chữa lành những nỗi đau ở trong mình. Tại sao vậy? Rất đơn giản vì bạn chỉ muốn giữ nguyên vẹn tình trạng băng hoại cũ, và nỗi đau của quá khứ lúc đó đã trở thành một phần tất yếu của nhân cách bạn. Đây là một quá trình chống đối và phá hoại một cách không có ý thức và cách duy nhất để bạn vượt qua được chướng ngại này là bạn ý thức được điều đó và biến quá trình chống đối thiếu ý thức ấy thành một nhận thức sáng tỏ ở trong bạn.

Khi bạn đột nhiên nhận biết rằng bạn đã và đang ôm cứng lấy nỗi đau quá khứ của mình, không chịu buông ra, thì nhận thức đó có thể gây một chấn động lớn ở trong bạn. Nhưng phút giây khi bạn nhận ra được điều này thì sự bám víu đó sẽ được chấm dứt. Giống hệt như một thực thể sống, khối khổ đau sâu kín là một trường năng lượng tạm thời trú ẩn ở không gian bên trong của bạn. Đó là một dòng năng lượng của sự sống đã bị phong tỏa lại, không còn lưu chuyển được nữa. Dĩ nhiên sự hiện hữu của khối khổ đau này là do những gì đã xảy ra trong quá khứ. Nhưng bây giờ, quá khứ đó vẫn đang tiếp tục sống ở trong bạn, và nếu bạn đồng nhất bạn với khối khổ đau đó tức là bạn đồng nhất bạn với quá khứ. Bạn có tâm thức nạn nhân khi bạn tin một cách sai lầm rằng quá khứ có sức mạnh hơn hiện tại và điều này rất trái với sự thật. Bạn có tâm thức nạn nhân là khi bạn tin rằng: người khác và những gì họ đã gây ra cho bạn trong quá khứ chịu hết trách nhiệm cho tình trạng hiện nay của bạn, hay chịu hết trách nhiệm cho những cảm giác đau buồn của bạn, hay chịu hết trách nhiệm cho sự bất lực ở trong bạn, khi bạn không thể đạt đến khả năng thật sự của mình(25). Sự thật là năng lực duy nhất mà bạn có thể có được là chỉ ở ngay giây phút này: đó là năng lực của sự hiện diện của bạn. Khi biết được sự thật này, bạn cũng nhận ra rằng “chính mình” chịu trách nhiệm cho không gian bên trong của mình trong giây phút này chứ không phải là một ai khác, và quá khứ không thể thắng được năng lực của phút giây hiện tại.

—–

Vì vậy, đồng nhất mình với khối khổ đau sâu dày ở trong mình sẽ cản ngăn, không cho bạn xử lý khối khổ đau ấy. Một số phụ nữ đã có được đủ nhận thức sáng suốt để chối từ tâm thức nạn nhân trên bình diện cá nhân, nhưng họ vẫn còn bám víu vào tâm thức nạn nhân có tính tập thể qua kiểu suy nghĩ “những tội ác mà đàn ông các anh đã gây ra cho phụ nữ chúng tôi…”. Họ đúng – và đồng thời cũng không đúng. Đúng ở chỗ là một phần lớn khối khổ đau sâu dày tập thể của người phụ nữ là do bạo lực mà đàn ông đã vô thức gây ra cho phụ nữ trong quá khứ và di chính sách áp bức đối với phụ nữ nói riêng và nguyên lý Âm trên hành tinh này nói chung qua hàng ngàn năm qua. Không đúng ở chỗ là từ sự việc cũ này mà người phụ nữ sẽ cố tạo ra cho mình một nhân cách, hay một tâm thức nạn nhân và qua đó giam hãm chính mình trong tâm thức nạn nhân tập thể. Nếu một người phụ nữ vẫn còn cố bám víu vào nỗi oán giận, thù ghét, hay chỉ trích,… thì chính người ấy đang bám vào khối khổ đau sâu dày của quá khứ ở trong họ. Điều này có thể tạo một nhân cách dễ chịu cho bản thân họ(26), tạo ra một cảm giác đoàn kết với những người phụ nữ khác, nhưng cũng đồng thời tạo ra một gông cùm trói buộc họ với quá khứ và ngăn chặn họ tiếp xúc được một cách đầy đủ với bản chất và năng lực thực sự của họ. Nếu người phụ nữ tự xa lánh với đàn ông thì điều đó sẽ tạo ra một cảm giác cách ly và vì thế càng làm mạnh thêm bản ngã của họ. Và khi bản ngã trong bạn càng mạnh, bạn càng xa cách với bản chất thực của mình.

Vì vậy đừng dùng khối khổ đau sâu dày cũ ở trong mình để tạo ra cho mình một nhân cách về chính mình. Thay vào đó, bạn hãy dùng khối khổ đau cũ đó để giúp bạn đi đến giác ngộ. Chuyển nó thành một nhận thức trong sáng về cuộc đời. Một trong những thời điểm tốt nhất là vào chu kỳ kinh nguyệt. Tôi cho rằng, trong những năm sắp đến sẽ có nhiều phụ nữ đạt đến trạng thái hoàn toàn tỉnh thức trong khi đang đi qua chu kỳ kinh nguyệt hàng tháng của họ. Thông thường, đối với nhiều phụ nữ, đó là lúc họ dễ trở nên thiếu hiểu biết, đánh mất nhận thức, vì họ dễ bị chế ngự bởi khối khổ đau sâu dày cũ ở trong họ. Tuy nhiên, khi đạt đến một mức độ nhận thức nào đó, bạn có thể đảo ngược tình trạng này, thay vì trở nên mất nhận thức, bạn lại nhận thức được “nhiều hơn”. Tôi đã nói về quy trình căn bản, nhưng ta hãy quay trở lại một lần nữa, chú ý đặc biệt tới khối khổ đau sâu dày có tính tập thể trong người phụ nữ.

 

Bài tập 8: Phát Hiện Nỗi Khổ Đau Khi Nỗi Khổ Ấy Vừa Phát Sinh

Khi bạn biết rằng chu kỳ kinh nguyệt của mình sắp đến, trước khi cảm nhận những dấu hiệu đầu tiên của những gì thường được gọi là sự căng thẳng thời kỳ tiền kinh nguyệt, sự trỗi dậy của khối khổ đau sâu dày tập thể, bạn hãy hết sức tỉnh táo và an trú trong thân thể mình càng nhiều càng tốt. Khi những dấu hiệu căng thẳng đầu tiên xuất hiện, bạn cần phải đủ tỉnh táo để “nắm bắt” lấy những căng thẳng đó thay vì bị nó chi phối. Ví dụ, dấu hiệu đầu tiên có thể là bỗng dưng trong bạn phát sinh một cảm giác rất cáu kỉnh, bực bội,… hay có một ánh chớp của một cơn giận dữ rất mạnh, hay có thể là bạn chỉ cảm thấy một triệu chứng căng thẳng gì đó hoàn toàn thuộc về cơ thể. Dù đó là bất cứ một dấu hiệu gì, bạn hãy phát hiện và nắm bắt lấy nó ngay, trước khi nó chiếm hữu lấy bạn một cách toàn diện và biểu hiện sự chiếm hữu đó qua những suy nghĩ hay hành vi rất tiêu cực của bạn. Để làm được điều này, bạn chỉ cần im lặng thở và hướng ánh sáng của sự chú tâm của bạn vào những căng thẳng, hay những cảm xúc đó khi nó vừa xuất hiện. Nếu đó là một cảm xúc, bạn hãy cảm nhận đơn thuần năng lượng mạnh mẽ tích tụ đằng sau cảm xúc đó. Hãy ý thức và chấp nhận rằng đây chỉ là một khối khổ đau sâu dày cũ ở trong mình. Đồng thời bạn hãy là cái biết sáng tỏ đó, tức là, bạn ý thức được sự hiện diện của mình và cảm nhận năng lực của sự có mặt đó.Bất cứ một cảm xúc tiêu cực nào mà khi bạn đưa sự có mặt sáng tỏ của mình soi chiếu vào, cảm xúc tiêu cực đó cũng sẽ nhanh chóng được lắng dịu xuống và được chuyển hóa. Nếu đó chỉ là một triệu chứng đau nhức hay căng thẳng gì đó trong cơ thể bạn một cách thuần túy thì sự chú tâm của bạn hướng vào chỗ đó sẽ không cho phép triệu chứng đó trở thành một suy nghĩ hay cảm xúc tiêu cực. Sau đó bạn cứ tiếp tục tỉnh táo và chờ đợi một dấu hiệu biểu hiện kế tiếp của khối khổ đau sau dày này. Một khi dấu hiệu kế tiếp xuất hiện, bạn lại nắm bắtnó cũng cùng một cách thực tập như bạn đã làm ở trên.

Sau đó, khi khối khổ đau sâu dày cũ ở trong bạn đã hoàn toàn thức dậy khỏi trạng thái ngủ yên trước đây, bạn có thể sẽ cảm thấy có rất nhiều cảm xúc xáo trộn ở trong lòng trong một khoảng thời gian, có thể đến vài ngày. Dù sự xáo trộn ấy có xảy ra dưới hình thức gì đi nữa, bạn hãy giữ vững ý thức sáng tỏ ở trong mình. Hãy chú tâm hoàn toàn vào những cảm xúc đó. Hãy quan sát sự xáo trộn ở bên trong bạn một cách yên lặng và trầm tĩnh. Hãy biết rằng những xáo trộn đó đang có ở đó. Nắm bắt lấy cái biết đó và hãy là cái biết đó. Bạn hãy nhớ: đừng để cho khối khổ đau sâu dày cũ này chiếm hữu lấy ý thức và tâm trí của bạn, chi phối những suy nghĩ của bạn. Hãy quan sát những cơn lốc tình cảm đó. Cảm nhận năng lượng của nó một cách trực tiếp, ở bên trong cơ thể của mình. Bạn biết đấy, chú tâm hoàn toàn tức là chấp nhận hoàn toàn.

Qua sự chú tâm được duy trì đó ở trong bạn có nghĩa là qua sự chấp nhận của bạn, bạn sẽ có sự chuyển hóa. Khối khổ đau sâu dày cũ ở trong bạn đã được chuyển hóa thành nhận thức sáng chói, giống như một mảnh gỗ, khi đặt gần ngọn lửa, tự nó sẽ biến thành lửa. Lúc ấy chu kỳ kinh nguyệt của bạn không những trở thành một biểu lộ đầy vui tươi và thỏa mãn của nữ giới của bạn, mà còn là thời điểm thiêng liêng cho sự chuyển hóa khi bạn cho ra đời một tâm thức mới. Bản chất chân thực của bạn sẽ chiếu sáng, cả trong khía cạnh nữ tính của nó như là vị nữ Thượng Đế và cả trong bản chất siêu nhiên của chính bạn, vượt lên trên hai đối cực: nam, nữ.

Nếu một người đàn ông trong một quan hệ luyến ái mà có ý thức sáng tỏ, anh ta có thể giúp người phụ nữ thực hành như tôi đã mô tả ở trên bằng cách nắm giữ tần số hiện diện của anh ấy một cách mạnh mẽ, đặc biệt là vào thời điểm này. Nếu anh ta vẫn tiếp tục giữ được sự có mặt với ý thức sáng tỏ của mình, bất kỳ khi nào bạn bị đánh mất nhận thức, sai lầm khi đồng nhất bạn với khối khổ đau sâu dày của quá khứ ở trong bạn, điều này sẽ và rất có thể xảy ra ở giai đoạn đầu của việc thực tập của hai người, lúc đó bạn có thể nhanh chóng trở về với trạng thái có mặt đang hiện diện trong người bạn trai. Điều này có nghĩa là lúc nào mà khối khổ đau sâu dày của bạn tạm thời chi phối bạn, trong thời kỳ kinh nguyệt hay vào những lúc khác, thì người bạn trai của bạn sẽ không nhầm lẫn cách cư xử thiếu sót tạm thời đó của bạn với con người chân thực của bạn. Thậm chí cả khi nỗi đau thể xác cũ của bạn công kích anh ta, anh ta sẽ không phản ứng như thể “cách cư xử thiếu tự chủ đó” của bạn chính là bạn – anh ta trở nên thu mình hay thủ thế với bạn. Anh ta sẽ duy trì không gian của sự có mặt mạnh mẽ và chỉ cần hai người làm được như thế là đủ để có sự chuyển hóa. Ngược lại, vào những lúc khác, khi thấy người bạn trai của bạn đang bị đồng nhất với những suy nghĩ của anh ta, bạn cũng có thể làm giống như vậy để giúp anh ta thu hồi nhận thức ra khỏi lý trí bằng cách hướng sự chú ý của anh ta vào những gì xảy ra ngay bây giờ và ở đây.

Khi thực tập như thế, có một trường năng lượng thường trực, có tần số cao và thuần khiết được tạo ra ở chung quanh bạn. Không còn ảo tưởng, không còn đau đớn, xung đột, không còn gì ngoài chính bạn, và không còn gì không phải là yêu thương có thể tồn tại trong trường năng lượng tích cực này. Điều này tiêu biểu cho sự thành tựu của mục đích thiêng liêng trong quan hệ cá nhân. Nó sẽ trở thành một vũng xoáy của tâm thức hấp dẫn những người khác vào.

—–

 

CHẤM DỨT QUAN HỆ VỚI CHÍNH MÌNH

 

Khi người ta đã hoàn toàn tỉnh thức, người đó có còn cần đến một quan hệ không? Một người đàn ông có bị cuốn hút bởi một người đàn bà không? Một người đàn bà có thấy thiếu, chưa toàn vẹn nếu không có một người đàn ông bên cạnh?

Giác ngộ hay không thì bạn vẫn là một người đàn ông hoặc đàn bà, vì vậy trên bình diện hình tướng bạn vẫn chưa hoàn thiện. Bạn chỉ là một nửa của cái hoàn thiện. Sự thiếu hoàn thiện này sẽ được cảm nhận như là sức hút giữa nam và nữ, sự lôi kéo về phía đối cực ở bên kia, dầu trình độ nhận thức của bạn thế nào đi nữa. Nhưng khi bạn ở trong trạng thái kết nối được với nội tâm thì bạn sẽ cảm thấy sức hút này chỉ xảy ra ở trên bề mặt hay ở ngoại vi của đời sống của bạn thôi. Hầu như bất kỳ cái gì xảy đến cho bạn ở trong trạng thái liên hệ mật thiết với nội tại đó cũng đều có vẻ giống như thế. Toàn bộ thế giới chung quanh có vẻ như những gợn sóng trên bề mặt của đại dương bao la, sâu thẳm. Bạn vừa là đại dương và dĩ nhiên cũng là những gợn sóng đó, nhưng là một gợn sóng đã nhận thức được bản chất đích thực của mình là đại dương, và với vẻ bao la, sâu thẳm như thế thì thế giới của những đợt sóng và của những gợn sóng không còn quan trọng đối với bạn nữa.

Điều này không có nghĩa là bạn sẽ không còn quan hệ sâu sắc với những người khác hay với người bạn gối chăn của mình. Thật ra, bạn chỉ liên hệ một cách sâu sắc với người khác khi bạn đã ý thức được trạng thái ung dung tự tại của mình. Xuất phát từ Bản Chất Chân Thực của mình, bạn mới có thể tập trung vào quan hệ của bạn với một người khác phái, vượt lên trên lớp vỏ hình tướng ở bên ngoài. An trú trong Bản Chất Chân Thực của bạn, nam với nữ là một. Hình tướng của bạn có thể vẫn còn có những nhu yếu nào đó, nhưng Bản Chất Chân Thực của bạn thì không. Vì Bản Chất đó đã toàn thể và trọn vẹn. Nếu những nhu cầu đó được đáp ứng thì cũng tốt, nhưng cho dù nó có được đáp ứng hay không cũng không ảnh hưởng gì đến trạng thái yên bình sâu xa ở bên trong của bạn. Vì thế, nếu nhu cầu nam nữ của bạn không được đáp ứng thì một người đã giác ngộ hoàn toàn vẫn có thể có cảm giác thiếu hụt, hay chưa trọn vẹn về phương diện bên ngoài đó của mình, nhưng đồng thời người đó lại vừa cảm thấy hoàn toàn, thỏa mãn, và an bình ở bên trong.

Trong con đường đi đến giác ngộ, đối với một người đồng tính, điều này có tác dụng hỗ trợ hay cản trở người đó đạt đến giác ngộ không, hay chẳng có liên quan gì?

Đối với một người đồng tính, khi đến tuổi trưởng thành, sự thiếu chắc chắn về bản năng giới tính ở trong người đó khi nhận ra rằng mình rất “khác” với những người cùng phái có thể buộc người đó cảm thấy cách biệt khỏi những mô thức suy nghĩ và cách hành xử do xã hội định đặt. Điều này tự nhiên sẽ nâng mức độ nhận thức của người đó vượt lên trên nhận thức thông thường của đa số quần chúng còn đang thiếu hiểu biết, những thành viên của số đông đó không chút băn khoăn khi nhận lãnh tất cả những mô thức họ được thừa hưởng từ xã hội. Về khía cạnh này, một người đồng tính có thể có tác dụng tốt. Trong một chừng mực nào đó, người ấy chỉ làm một kẻ bàng quan, làm một người không hài hòa với những người khác, hay bị đa số phản bác vì bất kỳ một lý do gì, sẽ làm cho cuộc sống của người đó có khó khăn hơn, nhưng xét về mặt giác ngộ thì người đó sẽ có lợi thế hơn. Khó khăn đó hầu như buộc người ta phải thoát ra khỏi sự vô minh.

Mặt khác, nếu trên cơ sở đồng tính mà người đó lại tạo cho mình một nhân cách thì người đó đang cố thoát ra khỏi cái bẫy này chỉ để rơi vào một cái bẫy khác. Người đó sẽ đóng vai, chơi trò này, trò nọ dưới sự sai sử từ những hình ảnh của một người đồng tính mà người đó có về chính mình ở trong đầu. Người đó sẽ dần trở nên mất nhận thức. Trở nên thiếu thực tiễn. Bên dưới tấm mặt nạ bản ngã, người đó có thể rất khổ sở. Nếu điều này xảy ra cho người đó, thì đồng tính sẽ trở thành một chướng ngại cản trở người đó đạt đến tỉnh thức. Nhưng người đó luôn có một cơ hội khác. Nỗi bất hạnh sâu sắc nào cũng có thể là tác nhân đưa đến sự thức tỉnh lớn.

—–

 

Chẳng phải là ta cần có quan hệ tốt với chính mình và yêu chính mình trước khi có quan hệ mỹ mãn với người khác ư?

Nếu bạn không thoải mái với chính mình khi đang ở một mình, bạn sẽ tìm kiếm một quan hệ để che giấu nỗi bất an. Nhưng chắc chắn rằng nỗi bất an đó sẽ biểu hiện ra dưới một hình thức khác trong quan hệ đó, và lúc đó không khéo, bạn có thể quy trách nhiệm cho người bạn gối chăn của mình về nỗi bất an này.

Những gì bạn cần làm là hoàn toàn chấp nhận giây phút này. Lúc đó bạn sẽ có sự thư thái bây giờ và ở đây, và có sự an lành với chính mình.

Nhưng bạn có thực cần phải có một quan hệ với chính mình không? Tại sao bạn không thể chính bạn? Khi bạn có một quan hệ với chính bản thân mình, bạn tách mình ra làm hai: “bạn” và “bản thân bạn”, tức là có hai phần: chủ thể và khách thể. Sự phân biệt của trí năng này là nguyên nhân gốc rễ của mọi phức tạp không cần thiết, mọi vấn đề và mâu thuẫn trong đời sống của bạn. Khi đạt được giác ngộ, ta chính “là” bản thân ta – “ta” và “bản thân ta” hòa làm một. Bạn không thể phán xét chính mình, không thể thấy tiếc cho bản thân mình, không tự hào về bản thân mình, không yêu chính mình, ghét chính mình, v.v… Sự ngăn cách gây ra bởi nhận-thức-tự-phản-ảnh chính nó đã được chữa lành, lời nguyền đã bị phá bỏ. Chẳng có “bản ngã” nào để phải bảo vệ, che chở, hay nuôi nấng nữa. Khi đã giác ngộ, có một quan hệ ở trong bạn không còn nữa, đó là quan hệ với chính mình. Khi đã dứt bỏ điều đó, tất cả quan hệ khác của bạn sẽ là quan hệ yêu thương.

—–

Chú thích

  1. Khi tôi có được cái này hay không vướng bận bởi cái kia, thì tôi sẽ được thong dong: Là niềm tin sai lạc rằng hạnh phúc của ta không thể có trong những gì ta đang có trong phút giây hiện tại, mà chỉ có ở tương lai.
  2. Đi vào Phút Giây Hiện Tại từ chỗ bạn “đang cô đơn vì không có người kết bạn”: Trong tình trạng này, bạn đi vào phút giây hiện tại bằng cách tiếp xúc với nỗi cô đơn ở trong mình. Nếu trong mình đang có những thứ tình cảm khác như thèm khát, thì đây là một cơ hội quý cho bạn nhận diện và chuyển hóa những năng lượng đó ở trong mình.
  3. Đi vào phút giây hiện tại từ chỗ bạn “đang ở trong một quan hệ luyến ái”: Nếu bạn đang có những bế tắc trong quan hệ luyến ái của mình, thì đây là cơ hội cho bạn đối diện và chuyển hóa những vấn đề đó.
  4. Bạo hành về thể xác và tình cảm: Những bạo hành về thể xác thì rất dễ cho chúng ta nhận ra như sự hành hạ, đánh đập trên thân thể. Nhưng những loại bạo hành khác như về mặt tinh thần, tình cảm,… thì khó nhận ra hơn. Những khi ta dùng lời lẽ nặng nề, hay những mánh lới, thủ đoạn như đe dọa sẽ không đáp ứng chuyện sắc dục, tiền bạc,… cho người kia để uy hiếp người kia thì đó là một sự bạo hành về tinh thần hoặc tình cảm.
  5. Thích gây hấn, phê bình, phán xét, đổ lỗi cho người khác, đả kích, giận dữ, báo thù một cách thiếu hiểu biết vì những khổ đau của cha mẹ mình đã gây ra cho mình trong quá khứ, hoặc thịnh nộ và đi đến khuynh hướng bạo hành về thể xác: Trong một quan hệ luyến ái, chúng ta thường mang theo rất nhiều hành trang của quá khứ, trong đó có những hành trang từ cha, mẹ, tổ tiên, ông bà trao truyền cho ta. Hành trang ấy gồm những hạnh phúc, những đức tính tốt, nhưng cũng gồm những khổ đau và những thói quen xấu. Do đó, những hành trang này ảnh hưởng đến cách chúng ta cư xử với người bạn gối chăn của mình. Những khó khăn trong quan hệ luyến ái này có thể có gốc rễ từ những khổ đau mà cha mẹ ta trao truyền.
  6. Để cho sự có mặt sâu sắc của mình tiếp xúc với nỗi cô đơn ở trong mình: Nhiều khi chúng ta đi tìm một quan hệ luyến ái để chạy trốn nỗi cô đơn ở trong mình, không biết rằng khi đã có quan hệ rồi, ta vẫn thấy cô đơn, vì cô đơn là một cảm xúc ở trong mình, chỉ có mình mới có thể giúp cho mình chuyển hóa được nỗi cô đơn ở trong lòng. Khi có một cảm giác cô đơn xuất hiện, ta chỉ cần có mặt sâu sắc với cảm giác cô đơn đó, không tránh né, phê phán,… thì tự khắc cảm giác cô đơn sẽ được xoa dịu và chuyển hóa.
  7. Những kiểu suy nghĩ lặp đi lặp lại ở trong đầu mình: Chúng ta để cho tâm mình đi vào những thói quen suy nghĩ lặp đi, lặp lại. Đó có thể là những hối tiếc về một chuyện gì đã qua, hay âu lo về một điều gì sắp xảy ra, dù biết chắc là chuyện ấy sẽ xảy ra. Có khi đó là một ý tưởng phán xét, chê trách về bản thân mình, ví dụ: “Tại sao tôi có thể ngu ngốc đến như thế!”.
  8. Những vai tuồng, nhân vật mà chúng ta đóng: Trong một quan hệ luyến ái, chúng ta thường không dám sống thật với chính mình, do đó không dám sống thật với mọi người chung quanh. Do đó chúng ta đóng những vai, những nhân vật “người chồng gương mẫu, người vợ hiền” ngay trong quan hệ luyến ái của mình và với mọi người chung quanh. Mỗi lời nói, mỗi cử chỉ đều được tính toán, dò chừng. Có khi, ta đóng vai một người phụ nữ yếu đuối để được hoàng tử mặc áo choàng đỏ, phi ngựa trắng đến cứu giúp. Hoặc ta đóng vai hiệp sĩ mang áo giáp sáng loáng, làm người kỵ mã anh hùng ra tay nghĩa hiệp cứu một người con gái thế cô.
  9. Một “cái tôi”: Đó chính là những nhân vật, những vai tuồng mà chúng ta đóng: một vị quan tòa khắt khe, một nạn nhân của cuộc đời.
  10. Những lối hành xử cưỡng bách: Khi đã lỡ đóng một vai, một nhân vật của một bi kịch mà chúng ta vừa là diễn viên, vừa là đạo diễn,… chúng ta bị buộc phải cư xử, hành động theo đúng vai trò mà chúng ta chọn lựa cho mình.
  11. Nhu yếu phán xét người khác: Sự phán xét vẫn là phê phán, dù nói ra thành lời hay không, và chúng ta rất thích phê phán người khác, không biết rằng khi chúng ta phán xét người khác tức là chúng ta đang phán xét chính mình. Vì trong khi thiếu hiểu biết, ta đang nói rằng “Nếu tôi mà như anh, và tôi mà hành xử như thế là tôi xấu, tôi sai, tôi sẽ khinh chính tôi”. Nhưng trí năng lật ngược, đi phóng chiếu đối tượng bị khinh rẻ kia thành một người ở bên ngoài ta. Do đó ta đi chê trách kẻ khác, không biết rằng sự thực là ta đang chê trách chính ta.
  12. Những tấn tuồng: Đó là những bi kịch mà chúng ta tự tạo ra trong quan hệ luyến ái của mình. Có khi là để thưởng thức thú đau thương, cung cấp thức ăn cho khối khổ đau sâu dày cũ ở trong ta.
  13. Chứng ngộ về Nhất Thể: Kinh nghiệm hợp nhất với mọi thứ, mọi vật chung quanh mình. Cảm nhận mọi người, mọi vật chung quanh mình thân thiết như tế bào trên cùng một thân thể.
  14. Dùng quan hệ luyến ái như một thực tập tâm linh: Trong một quan hệ luyến ái, chúng ta có rất nhiều khó khăn trong cách nói năng, cư xử với nhau… Nhưng chúng ta không muốn đối diện và chuyển hóa những khó khăn, khổ đau này. Thay vào đó, chúng ta muốn đi tìm những đề tài tâm linh bí hiểm, những công án Thiền,… xa rời thực tế và những khổ đau đang có mặt ở trong đời sống vợ chồng của mình. Cho nên, người thông minh là một người biết sử dụng những vấn đề khó khăn mà chúng ta đang gặp phải trong quan hệ luyến ái như là một thực tập tâm linh, để nhìn sâu và chuyển hóa những khó khăn và khổ đau đó thành niềm vui và sự an lạc.
  15. Đồng nhất mình với lý trí: Xem mình là một với những suy tư, lo sợ vẩn vơ ở trong mình.
  16. Không muốn lặp lại những tấn tuồng qua những quan hệ luyến ái: Đối với những người đã đi qua nhiều quan hệ vợ chồng, nhiều khi những khó khăn cũ của quá khứ cứ lặp đi lặp lại như một bi kịch cũ đã xảy ra trong những quan hệ trước đây.
  17. Nghiện ngập những cảm xúc mạnh mẽ gây ra bởi những tấn tuồng cảm xúc và khổ đau: Lắm khi chúng ta nghiện những cảm xúc này như nghiện thú đau thương, như những kẻ vì tê cứng, nên thích nghiện những cảm xúc khổ đau mãnh liệt để có thể cảm thấy được mình vẫn đang còn sống.
  18. Phóng đại những khuôn mẫu phản ứng đầy tính lý trí: Đời sống của mỗi con người bao gồm nhiều thói quen như ăn uống, nghỉ ngơi, nói năng, hành xử v.v… Ngay cả suy tư, phản ứng của chúng ta cũng trở thành những thói quen. Trong một quan hệ luyến ái, những thói quen phản ứng trong lời nói, hành động này sẽ được phóng đại lên nhiều lần làm chúng ta vừa muốn biết về chính mình

CHƯƠNG VII LỐI VÀO CÕI VÔ TƯỚNG – ĐI SÂU VÀO CƠ THỂ

Tôi có thể cảm nhận được năng lượng bên trong cơ thể của tôi, đặc biệt là ở tay và chân, nhưng có vẻ như tôi không thể đi sâu hơn nữa như ông đã nói ở trên.

Hãy biến nó thành một thiền tập để an tĩnh tâm mình. Bạn sẽ không mất nhiều thì giờ đâu. Chỉ cần mười đến mười lăm phút đồng hồ là đủ. Hãy chắc chắn là bạn không bị những quấy rầy ở bên ngoài như điện thoại, ngoại cảnh hoặc ai đó có thể làm gián đoạn buổi thực tập của bạn. Bạn có thể ngồi ở trên ghế, giữ lưng cho thẳng, nhưng không nên dựa lưng mình về phía sau. Làm như thế sẽ giúp cho bạn tỉnh táo hơn. Hoặc bạn có thể chọn cho mình một tư thế khác mà bạn ưa thích để thiền tập.

 

Bài tập 7.1a: Có Mặt Với Hơi Thở Vào Ra

Nằm nhắm mắt và buông lỏng toàn thân. Thở một vài hơi thật sâu. Hãy cảm nhận bạn đang thở vào phía bụng dưới. Hãy quan sát bụng mình giãn ra và co vào như thế nào với từng hơi thở vào, ra của bạn. Sau đó nhận thức toàn bộ trường năng lượng bên trong của cơ thể bạn. Đừng suy nghĩ gì cả, chỉ cảm nhận thôi. Khi làm như thế, bạn sẽ thu hồi lại ý thức của mình, thoát ra khỏi những suy tưởng miên man của lý trí. Nếu bạn thấy có ích, hãy dùng phương pháp quán tưởng(1), bằng cách hình dung về bài tập “ánh sáng” như tôi đã nói ở trên.

 

Bài tập 7.1b: Dùng Hơi Thở Để Đi Sâu Vào Cơ Thể

Khi bạn đã có thể cảm nhận rõ ràng cơ thể từ bên trong như là một trường năng lượng riêng rẽ, nếu được, bạn hãy buông bỏ mọi hình ảnh ở trong đầu và chỉ tập trung vào cảm nhận mà thôi. Nếu làm được, bạn hãy tiếp tục buông bỏ luôn tất cả những hình ảnh bạn có ở trong đầu về thân thể vật lý của bạn ở bên ngoài. Lúc đó tất cả chỉ còn lại một cảm giác hiện diện bao trùm, được gọi là “sự Hiện Hữu”, và cơ thể bên trong của bạn được cảm nhận là không còn biên giới. Rồi bạn hướng sự chú tâm của mình sâu hơn vào cảm nhận đó. Hòa làm một với cảm nhận đó. Hòa nhập làm một với trường năng lượng đó, để không còn sự phân biệt giữa người quan sát đối tượng bị quan sát, sự phân biệt giữa bạn cơ thể bạn. Bây giờ sự phân biệt giữa bên trong và bên ngoài cũng tan biến, không còn cơ thể bên trong nữa. Bằng cách đi sâu vào cơ thể, bạn đã vượt lên trên cơ thể.

Hãy an trú trong trạng thái Hiện Hữu thuần khiết này lâu chừng nào tốt chừng ấy, cho đến khi nào bạn còn cảm thấy dễ chịu; sau đó bạn đưa nhận thức mình trở về với cơ thể vật lý ở bên ngoài, về với hơi thở và những cảm giác của cơ thể, rồi bạn có thể mở mắt ra. Hãy nhìn quanh một vài phút với sự an tĩnh trong tâm hồn – tức là không có nhu yếu phân biệt, phê phán – và lại tiếp tục cảm nhận thân thể bên trong của mình.

—–

Khi tiếp xúc được với cõi Vô Tướng như thế thật là một giải thoát lớn lao. Nó giúp bạn thoát ra khỏi những vướng mắc, ràng buộc với hình tướng và sự đồng nhất sai lầm với hình tướng. Đó là sự sống ở trong tình trạng toàn vẹn, không phân biệt trước khi bị phân thành vô số mảnh. Ta có thể gọi đó là cảnh giới Vô Tướng, nguồn gốc vô hình của tất cả mọi thứ, sự Hiện Hữu ở trong tất cả mọi Hiện Hữu. Đó là cõi an bình và tĩnh lặng sâu sắc, cũng là nơi của niềm vui và sự sống mãnh liệt. Khi nào bạn có mặt, trong một chừng mực nào đó, bạn trở thành “trong suốt” với ánh sáng, với nhận thức thuần khiết xuất phát từ Nguồn Cội. Bạn cũng nhận thấy rằng ánh sáng không Hiện Hữu riêng rẽ với bản thể của bạn, mà ánh sáng tạo nên bản chất của chính bạn.

—–

 

CỘI NGUỒN CỦA KHÍ

 

Có phải Vô Tướng là những gì phương Đông thường gọi là khí, một loại năng lượng sống của vũ trụ?

Không. Ngược lại Cõi Vô Tướng mới chính là cội nguồn của Khí. Khí là trường năng lượng bên trong cơ thể bạn. Nó là nhịp cầu giữa cái bên ngoài của bạn và Cội Nguồn. Nó nằm giữa hình tướng, thế giới của hình dạng, và Vô Tướng. Khí có thể được ví như một dòng sông, hay dòng năng lượng. Nếu bạn tập trung nhận thức vào sâu bên trong cơ thể, bạn đang lần theo dòng sông này để trở về Nguồn. Khí là chuyển động, Vô Tướng là tĩnh lặng. Khi đạt đến độ tĩnh lặng tuyệt đối, nhưng lại rộn ràng với sự sống, tức là bạn đã ra khỏi cơ thể bên trong và ra khỏi Khí để trở về với tự thân Cội Nguồn – Cõi Vô Tướng. Khí là nhịp cầu nối kết giữa cảnh giới Vô Tướng và thế giới vật chất.

 

Bài tập 7.2a: Đi Vào Cõi Vô Tướng

Vì vậy nếu bạn đưa sự chú tâm của mình vào sâu bên trong cơ thể, bạn có thể đạt đến điểm hội tụ này, nơi mà thế giới hòa vào trong Cõi Vô Tướng và cảnh giới Vô Tướng mang hình dạng là một dòng năng lượng của Khí, và trở thành thế giới. Đây là mốc của sự sống và cái chết. Khi nhận thức của bạn được hướng ra bên ngoài, thì suy tư và “thế giới vật chất” hiện ra. Khi nhận thức của bạn được hướng vào bên trong, thì Tâm nhận ra Cội Nguồn của chính nó và trở về nhà, trở về với Cõi Vô Tướng. Rồi thì, khi nhận thức trở lại với thế giới hình tướng, bạn trở lại nhận hình tướng mà bạn vừa tạm thời từ bỏ. Bạn trở lại một con người có một cái tên, có quá khứ, có hoàn cảnh sống, có tương lai. Nhưng về một khía cạnh căn bản nào đó, bạn không còn giống như là bạn trước đây. Hẳn bạn sẽ hé thấy một thực tại ở trong bạn mà không thuộc về “thế giới này”, dầu nó không hiện hữu riêng rẽ với thế giới, cũng như nó không hiện hữu riêng rẽ với bạn.

 

Bài tập 7.2b: Giữ Sự Liên Lạc Thường Xuyên Với Cõi Vô Tướng

Bạn hãy thực tập tâm linh theo cách này: Trong đời sống, đừng dồn hết sự chú tâm của mình vào thế giới bên ngoài và cho suy tư. Hãy giữ lại một ít ở bên trong. Hãy cảm nhận cơ thể bên trong ngay cả khi bạn đang tham gia vào các hoạt động thường nhật, đặc biệt là trong các mối quan hệ giao tiếp cũng như khi liên hệ với thiên nhiên. Hãy cảm nhận sự tĩnh lặng sâu thẳm ở bên trong. Hãy giữ cho cácnh cửa với cảnh giới Vô Tướng được tiếp tục mở. Ý thức về Cõi Vô Tướng trong suốt cuộc đời bạn là một điều bạn có thể làm. Bạn sẽ cảm nhận nó như là một cảm giác yên bình sâu lắng đâu đó ở đằng sau hậu trường của tâm thức, một sự tĩnh lặng không bao giờ rời xa bạn, dầu cho có điều gì đang xảy ra ở bên ngoài đi nữa. Bạn trở thành nhịp cầu nối liền với cảnh giới Vô Tướng và hình tướng, giữa vũ trụ và thế giới này. Đây là tình trạng nối kết với Nguồn Cội mà ta gọi là giác ngộ.

Đừng có ấn tượng sai lầm rằng Cõi Vô Tướng tách rời khỏi Cõi Hình Tướng – Thế Giới biểu hiện. Làm sao có được! Đó là sự sống tiềm ẩn trong mọi hình tướng, là bản chất bên trong của mọi thứ đang hiện hữu. Nó bao trùm cả thế giới này. Tôi sẽ giải thích thêm về điều này sau.

—–

 

GIẤC NGỦ KHÔNG MỘNG MỊ

 

Mỗi khi bạn đi vào một giấc ngủ sâu, không mộng mị, lúc đó bạn đang thực hiện một cuộc hành trình đi vào Cõi Vô Tướng. Bạn hòa nhập với Nguồn Cội. Bạn tiếp nhận năng lượng cần thiết cho sự sống giúp bạn giữ vững sinh mạng thêm một thời gian khi bạn trở về với thế giới hình tướng, thế giới của những hình thể riêng rẽ. Nguồn năng lượng này cần cho sự sống của bạn hơn thực phẩm nhiều: “Con người không chỉ sống nhờ vào bánh mì”. Nhưng trong một giấc ngủ không mơ, bạn không đi vào đó một cách có ý thức. Mặc dầu các chức năng cơ thể vẫn đang hoạt động, “bạn” không còn hiện hữu khi đang ở trạng thái hòa nhập đó nữa. Bạn có thể tưởng tượng được là đi vào giấc ngủ không mơ với đầy đủ nhận thức sẽ như thế nào không? Không thể nào tưởng tượng được vì trạng thái đó không có nội dung.

Cảnh giới Vô Tướng không thực sự giải thoát bạn cho đến khi bạn đi vào đó một cách có ý thức. Vì thế Chúa Jesus đã không nói “Sự thật sẽ giải thoát bạn”, mà là: “Bạn sẽ biết được sự thật và sự thật đó sẽ giải thoát bạn”. Đây không phải là sự thật thuộc về thế giới của khái niệm mà là sự thật của sự sống bất diệt vượt lên trên hình tướng. có thể cảm nhận trực tiếp hay là không bao giờ nếm được mùi vị của nó. Nhưng bạn đừng cố gắng duy trì ý thức khi ở trong giấc ngủ không mộng mị. Bạn sẽ rất hiếm khi thành công. Giỏi lắm là bạn chỉ có thể có chút ý thức trong giai đoạn có mộng mị (đi qua khỏi điểm đó thì bạn sẽ không còn giữ được ý thức nữa). Đây gọi là trạng thái mộng mị mà vẫn tỉnh táo, vẫn có ý thức, biết là mình đang mơ, một trạng thái có thể rất thú vị và hấp dẫn nhưng đó không phải là giải thoát thực sự.

Vì vậy cơ thể bên trong có thể được dùng như một cánh cửa giúp bạn đi vào Cõi Vô Tướng. Hãy giữ cho cánh cửa đó luôn rộng mở để bạn nối kết được với Nguồn Cội bất kỳ lúc nào. Dầu cho cơ thể bên ngoài của bạn già hay trẻ, mảnh mai hay mạnh khỏe, thì cơ thể bên trong của bạn cũng không bị ảnh hưởng gì. Cơ thể bên trong của bạn không bao giờ bị phụ thuộc vào thời gian. Nếu bạn vẫn chưa cảm nhận được cơ thể bên trong, thì hãy dùng một cánh cửa khác, dầu rốt cuộc, chúng đều dẫn đến cùng một nơi. Một số cánh cửa tôi đã đề cập đến nhiều lần, nhưng tôi xin nhắc lại ở đây.

—–

 

CÁC LỐI VÀO KHÁC

 

Phút giây hiện tại có thể xem là cánh cửa chính. Đó là khía cạnh cơ bản của mọi cánh cửa khác, kể cả cơ thể bên trong của bạn. Bạn không thể nào vừa ở “trong cơ thể mình” mà lại không có mặt một cách sâu sắc trong phút giây hiện tại.

Thời gian và thế giới có hình tướng luôn có sự liên kết với nhau một cách không thể tách rời, cũng giống như Hiện Tại vĩnh cửu và cảnh giới Vô Tướng. Khi bạn hóa giải thời gian tâm lý qua ý thức mạnh mẽ về giây phút hiện tại, bạn sẽ ý thức được Cõi Vô Tướng một cách trực tiếp và gián tiếp. Trực tiếp vì bạn cảm nhận được nó chính là vẻ rực rỡ và mạnh mẽ của sự hiện diện có ý thức của bạn – không có chi tiết, chỉ có sự có mặt. Gián tiếp ở chỗ bạn nhận thức được Cõi Vô Tướng thông qua và vào sâu trong lãnh vực cảm nhận. Nói một cách khác, bạn nhận thức được cái bản chất Thượng Đế(2) ở trong mỗi sinh vật, mỗi bông hoa, mỗi hòn sỏi và bạn nhận ra rằng: “Tất cả hết thảy, cái gì cũng thánh thiện cả”. Đây là lý do Chúa Jesus đã nói, một cách hoàn toàn từ chính bản chất Thượng Đế của mình, trong cuốn Phúc Âm của Thánh Thomas: “Khi con bổ một thanh củi ra, con sẽ nhìn thấy ta ở đó. Khi con nhấc một hòn đá lên, con cũng sẽ thấy ta ở đó”(3).

Một cánh cửa khác dẫn ta vào cảnh giới Vô Tướng là khi ta dừng hết tất cả mọi suy tư. Điều này có thể bắt đầu một cách rất đơn giản, như việc hít một hơi thở có ý thức, hay nhìn một bông hoa trong trạng thái tỉnh giác cao độ, làm sao để lúc đó trong bạn không có tiếng bình phẩm vang vọng của lý trí thường vẫn có ở trong đầu ta. Có nhiều cách để ta tạo ra được một khoảng trống trong dòng suy tưởng liên miên ở trong đầu ta. Đây chính là điều mà thiền tập muốn hướng đến. Suy tư là một phần của cõi hình tướng. Hoạt động không ngừng của lý trí giam giữ bạn trong thế giới hình sắc, làm thành một tấm màn che, ngăn trở bạn nhận thức được Cõi Vô Tướng, nhận thức được cái bản chất Thượng Đế không-hình-tướng, không-thời-gian ở trong bạn, ở trong mọi sự, mọi vật, Khi bạn “có mặt” một cách mạnh mẽ, bạn không cần nghĩ đến chuyện dừng suy nghĩ vì lúc đó lý trí của bạn đã tự động dừng lại. Vì vậy tôi nói phút giây hiện tại là khía cạnh cơ bản của mọi cánh cửa khác để giúp bạn đi vào cảnh giới Vô Tướng.

Một cổng khác để đi vào Cõi Vô Tướng là thái độ chấp nhận mọi chuyện vô điều kiện– không còn có sự chống đối nào về mặt cảm xúc hay suy nghĩ với những gì đang hiện diện. Lý do thật là đơn giản: Chống đối ở trong lòng làm bạn sẽ chia cách với người khác, với chính mình và với thế giới chung quanh. Sự chống đối ấy làm mạnh thêm cái cảm giác cách biệt mà bản ngã ở trong bạn thường dựa vào để tổn tại. Cảm giác cách biệt trong bạn càng mạnh bao nhiêu, bạn càng bị trói buộc vào thế giới của hình tướng, với thế giới của những hình sắc riêng rẽ. Bạn càng bị trói buộc vào thế giới hình tướng bao nhiêu, thì hình tướng ở trong bạn càng trở nên cứng nhắc hơn và càng khó cho sự hiểu biết và tình thương thẩm thấu vào trong bạn. Khi cánh cửa Vô Tướng đã bị đóng lại, bạn sẽ bị cắt đứt với chiều không gian bên trong, chiều không gian sâu thẳm. Do đó trạng thái chấp nhận hoàn toàn, giúp sự đồng hóa với hình tướng ở trong bạn mềm dịu lại và trở nên “trong suốt” để cho Cõi Vô Tướng có thể chiếu soi qua.

Nếu bạn muốn mở một cánh cửa giúp mình tiếp cận có nhận thức với cảnh giới Vô Tướng, hãy giữ liên hệ với trường năng lượng của cơ thể ở bên trong bạn, hãy hiện diện một cách mạnh mẽ, hãy tách ly khỏi lý trí, hãy chấp nhận mọi chuyện đang có mặt trong đời bạn. Tất cả đều là những cánh cửa mà ta có thể đi vào – và bạn chỉ cần dùng một cánh cửa mà thôi.

Chắc rằng yêu thương là một trong những cánh cửa đó?

Không phải, ngay khi một cánh cửa được hé mở, tình thương hiện diện trong bạn do “nhận thức/cảm nhận” về nhất thể. Tình thương không phải là một lối vào; đó chỉ là những gì “đi qua” cổng đó để đi vào thế giới này. Chừng nào mà bạn vẫn còn hoàn toàn bị mắc kẹt vào chuyện tự đồng hóa mình với hình tướng của mình thì bạn sẽ không cảm nhận được tình thương. Việc của bạn không phải là đi tìm tình thương mà là tìm ra cánh cửa để cho tình thương đi qua.

—–

 

 

SỰ TĨNH MẶC

 

Còn có lối nào khác nữa không?

Có chứ. Cõi Vô Tướng không tồn tại riêng rẽ với cõi hình tướng. Cảnh giới Vô Tướng thâm nhập khắp mọi ngõ ngách của thế giới này, nhưng cảnh giới này thường ngụy trang rất kỹ đến nỗi, hầu hết mọi người đều bỏ quên nó hoàn toàn. Nếu bạn biết cách tìm, thì bạn sẽ tìm thấy Cõi Vô Tướng ở khắp mọi nơi. Cứ mỗi lúc như thế thì một cánh cửa được mở ra.

Bạn có nghe con chó sủa ở đằng xa không? Hay một chiếc xe đang chạy ngang qua? Hãy lắng nghe cho kỹ. Bạn có thể cảm nhận được sự hiện diện của Vô Tướng trong đó không? Không thể ư? Hãy tìm Vô Tướng trong khoảng im bặt, chỗ mà từ đó, âm thanh đã phát ra và đã trở về lại ở đó. Hãy chú ý đến khoảng lặng im thôi mà đừng để tâm đến tiếng động. Khi bạn chú tâm vào khoảng lặng im ở bên ngoài, điều này sẽ giúp tạo ra một khoảng lặng im ở bên trong: lý trí lúc đó đã trở thành sự tĩnh lặng. Một cánh cửa khác đang được mở ra.

Mỗi âm thanh đều sinh ra từ tĩnh lặng, và trở về với tĩnh lặng, và trong suốt quãng đời ngắn ngủi của mình, âm thanh luôn bị bao trùm bởi sự tĩnh mặc. Tĩnh lặng giúp âm thanh tồn tại. Tĩnh lặng là một phần không thể tách rời, nhưng không hiển lộ của mỗi âm thanh, mỗi nốt nhạc, mỗi bài hát, mỗi tiếng nói. Tĩnh lặng chính là Vô Tướng hiển hiện trong thế giới này. Thế cho nên người ta đã nói, không một thứ gì trên thế giới này giống với Thượng Đế như sự tĩnh lặng. Điều bạn chỉ cần làm là chú ý đến sự tĩnh lặng. Ngay cả khi đang nói chuyện, bạn nên chú ý đến khoảng lặng im giữa những tiếng nói, khoảng im lặng ngắn ngủi giữa các câu nói. Khi bạn làm được như vậy thì chiều tĩnh lặng ở trong bạn sẽ lớn dần. Khi bạn vừa chú ý đến sự tĩnh mặc ở bên ngoài, thì bạn cũng vừa khám phá được sự tĩnh mặc của bạn ở bên trong. Bên ngoài yên như thế nào thì ở trong cũng tĩnh lặng như thế ấy. Bây giờ bạn vừa đi vào cõi Vô Tướng.

—–

 

KHÔNG GIAN

 

Không có âm thanh nào có thể tồn tại được mà không có sự tĩnh mặc, không gì tồn tại được nếu không có hư không, khoảng không trống rỗng làm cho vật ấy hiện hữu. Mọi vật thể vật lý hay cơ thể ta đều từ hư không mà ra, bao bọc bởi hư không, rốt cuộc rồi cũng trở về với hư không. Không những vậy, mà ngay cả bên trong mỗi vật thể, có nhiều chất “không có gì” nhiều hơn là những chất “có gì”. Các nhà vật lý cho ta biết rằng tính rắn chắc, đông đặc của vật chất chỉ là một ảo tưởng của chúng ta. Ngay cả những thứ dường như rắn chắc, trong đó bao gồm cả cơ thể chúng ta, thì chúng chứa gần cả 100 phần trăm là khoảng không – khoảng cách giữa các nguyên tử quá lớn lao so với kích thước của chúng. Hơn nữa, ngay bên trong mỗi nguyên tử thì hầu hết là khoảng không. Phần còn lại thì như là một làn sóng, hay một tần số rung động, nhiều hơn là những vi thể của vật rắn. Phần còn lại ấy giống như là một nốt nhạc. Đức Phật đã biết điều đó cách đây hơn 2.500 năm. “Tâm Kinh Bát Nhã”, một trong những kinh điển cổ của Phật giáo được chúng ta biết đến nhiều nhất, đã viết rằng: “Sắc tức thị không, Không tức thị sắc(4). Bản chất của mọi sự, mọi vật là vô ngã(5).

Cõi Vô Tướng không chỉ hiện diện trên thế giới này như là sự im lặng. Mà Vô Tướng còn bao trùm khắp vũ trụ vật chất dưới dạng không gian – cả trong lẫn ngoài. Điều này cũng dễ dàng bị bỏ qua như là sự tĩnh lặng. Mọi người thường chú ý đến các vật có mặt ở trong không gian, mấy ai chú ý đến chính không gian?

Dường như ông ám chỉ rằng “không có gì” hay “sự trống rỗng” không có nghĩa là “không có gì hết”, rằng có một số tính chất bí ẩn nào đó ở trong đó. Vậy cái “không có gì” này là gì?

Bạn không thể hỏi một câu hỏi như thế! Vì lý trí của bạn đang muốn biến cái “không có gì” thành “có gì”. Phút giây bạn biến “không gian” thành một cái gì đó thì bạn đã đánh mất nó rồi. “Không có gì” – không gian – là dáng vẻ về ngoài của Vô Tướng trong một thế giới được cảm nhận bởi cảm giác. Đó là điều duy nhất mà người ta có thể nói về sự Không Có Gì, thậm chí đó thực là một điều nghịch lý. Vì Không Có Gì không thể là một đối tượng của kiến thức. Bạn không thể làm một luận án tiến sĩ về sự”Không Có Gì” đó. Khi các nhà khoa học nghiên cứu về không gian, họ thường biến nó thành một cái gì đó và do đó đánh mất hoàn toàn bản chất của không gian. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi một giả thuyết khoa học gần đây nhất cho rằng không gian chẳng thực sự hoàn toàn là trống rỗng, rằng không gian chứa đầy rẫy một chất gì đó. Khi bạn đã có một lý thuyết rồi thì việc tìm ra bằng chứng để hỗ trợ cho lý thuyết đó sẽ chẳng khó khăn gì, ít ra là cho đến khi một lý thuyết mới được đề ra.

“Không có gì” chỉ có thể trở thành một cánh cửa đi vào Cõi Vô Tướng nếu bạn không cố nắm bắt không cố nắm bắt hay cố hiểu được nó.

Đó không phải là những điều chúng ta đang làm ư?

Không. Vì tôi đang giúp cho bạn những chỉ dẫn để chỉ cho bạn cách đem chiều không gian Vô Tướng đi vào cuộc sống của bạn. Không phải chúng ta đang cố gắng để hiểu nó. Vì chẳng có gì để hiểu cả.

Không gian không thực sự “hiện hữu”. Hiện hữu có nghĩa đen là biểu lộ ra ngoài. Bạn không thể hiểu được không gian vì nó không biểu lộ ra ngoài. Mặc dầu tự bản thân nó, không gian không có thực, nhưng không gian làm cho mọi vật khác hiện hữu. Im lặng cũng không có thực, Vô Tướng cũng vậy.

Vậy điều gì sẽ xảy ra khi bạn thôi không còn chú tâm đến các vật thể trong không gian nữa và hướng nhận thức của bạn vào chính không gian? Bản chất những căn phòng này là gì? Bàn ghế, tranh ảnh, v.v… đều đang “ở trong” phòng, nhưng chúng không phải là căn phòng. Sàn nhà, tường và trần nhà quy định ranh giới của căn phòng, nhưng chúng cũng không phải là căn phòng. Vậy thì bản chất của căn phòng này là gì? Là không gian, dĩ nhiên là không gian trống không. Không có không gian thì không có “phòng”. Vì không gian là “không có gì” nên có thể nói rằng những gì đang không ở đó thì còn quan trọng hơn là những gì đang ở đó. Vì vậy, bạn hãy chú ý đến không gian xung quanh bạn. Đừng nghĩ về không gian. Chỉ cần cảm nhận không gian như nó là. Chú ý đến cái “không có gì” đó.

Khi bạn làm như thế, trong bạn sẽ có sự chuyển hướng trong nhận thức. Lý do là: Ở bên trong, tương đương với những vật thể có trong không gian như bàn ghế, bức tường,… là đối tượng của tâm thức của bạn như: suy tư, cảm xúc, và những đối tượng của cảm xúc. Và sự tương đương ở bên trong về không gian là nhận thức của bạn, cái làm cho những đối tượng của tâm trở nên có mặt, cũng giống như không gian làm cho mọi vật được có mặt. Vì vậy khi bạn tách sự chú tâm của mình ra khỏi “sự vật” – vật thể trong không gian – tự nhiên bạn cũng tách sự chú tâm của bạn ra khỏi những đối tượng của tâm. Nói một cách khác, bạn không thể vừa suy tư “và vừa đồng thời” nhận thức được không gian hay sự im lặng ở quanh bạn. Chỉ bằng nhận thức được khoảng không trống rỗng chung quanh, bạn cũng đồng thời nhận thức được trạng thái có mặt hiện tiền, trạng thái Vô Niệm, tức là trạng thái Tâm không-có-những-suy-tưởng-miên-man của lý trí. Đó là trạng thái thuần khiết của Tâm: tức cũng chính là Vô Tướng. Đây là lý do tại sao phương pháp trầm tư, suy gẫm về không gian có thể là một cánh cửa khác mở ra cho bạn để đi vào cõi Vô Tướng.

Không gian và tĩnh lặng là hai khía cạnh khác nhau của cùng một sự việc, cũng chính là cái không-có-gì mà tôi đã đề cập đến ở trên. Đây là chiều không gian bên trong và sự lặng im ở bên trong được thể hiện ra bên ngoài, đó là sự tĩnh lặng: cái nôi vô cùng sáng tạo của hóa công, nơi sản sinh ra tất cả mọi sự, mọi vật. Hầu hết nhân loại hoàn toàn chưa nhận thức được chiều không gian này. Vì đối với họ, không hề có khoảng không gian hay sự tĩnh lặng ở bên trong. Vì họ đã bị mất đi sự quân bình. Nói một cách khác, những người này chỉ biết về thế giới, hay họ cứ tưởng là họ biết chắc điều này, nhưng họ thực không hề biết đến Thượng Đế, đến Vô Tướng. Họ chỉ đồng nhất mình với những hình tướng về vật chất hoặc tâm lý của mình. Và vì bản chất mọi vật có hình tướng đều rất không bền vững, nên họ thường xuyên sống trong nỗi sợ hãi(6). Nỗi sợ này gây ra cảm nhận sai lầm một cách sâu sắc về chính họ và về những người khác; họ có một cái nhìn méo mó về chính họ và về thế giới.

Nếu bây giờ có “một chấn động vũ trụ” làm cho thế giới này bị tiêu diệt thì Vô Tướng cũng hoàn toàn không bị ảnh hưởng gì bởi biến cố này. Cuốn sách “A Course in Miracles”(7) nói lên chân lý này một cách rõ ràng: “Không gì chân thật có thể bị đe dọa, không gì không chân thật có thể tồn tại được. Ở đây chỉ có sự an bình của Thượng Đế”.

Nếu bạn vẫn luôn có sự liên lạc một cách có ý thức với Cõi Vô Tướng, thì bạn sẽ luôn đề cao, thương yêu và tôn trọng sâu sắc bất kỳ biểu hiện nào của thế giới hình tướng và mỗi sinh thể đang sống trong đó; vì đây chính là sự biểu hiện của Đời Sống Duy Nhất vượt lên trên hình tướng. Bạn cũng biết rằng mọi hình tướng cuối cùng đều sẽ bị tan biến và chẳng có cái gì chung quanh ta là quan trọng cả. Lúc đó, nói theo lời Chúa Jesus, là lúc bạn đã “chiến thắng được mọi cám dỗ của thế gian”, hoặc nói như Đức Phật là: “Đáo bỉ ngạn” tức là đã qua được đến bờ bên kia, không còn bị mê hoặc bởi những ham muốn của thế gian.

—–

 

BẢN CHẤT ĐÍCH THỰC CỦA KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN

 

Hãy xem xét điều này: Nếu chỉ có sự lặng im không thôi, với bạn, sự lặng im đó sẽ không tồn tại; bạn sẽ không biết được đó là cái gì. Chỉ khi có âm thanh, thì lặng im mới trở thành hiện thực. Tương tự như thế, thì lặng im mới trở thành hiện thực. Tương tự như thế, nếu chỉ có không gian mà không có vật gì trong đó cả, thì không gian cũng không hiện hữu với bạn được. Hãy tưởng tượng ta là một điểm nhận thức trôi nổi trong không gian bao la – không có tinh tú, không có thiên hà, chỉ là sự trống không. Tự nhiên, lúc đó không gian không còn bao la nữa; không gian không còn tồn tại nữa, sẽ không có tốc độ, cũng không có sự chuyển động từ chỗ này đến chỗ kia. Để có được khoảng cách, và không gian, ta phải có ít nhất là 2 điểm để đối chiếu. Khi Nhất Thể trở thành lưỡng cực, rồi lưỡng cực trở thành tứ tượng,… trở thành “mười nghìn thứ”(8), như Lão Tử thường gọi thế giới hữu hình này, thì không gian lúc đó mới hiện hữu, mới trở thành bao la hơn. Cho nên đời sống và không gian, cả hai thứ đều đồng thời phát sinh ra.

Không có gì có thể tồn tại được nếu không có không gian, thế mà không gian chỉ là khoảng không, không có gì trong đó cả. Trước khi vũ trụ xuất hiện, trước khi có “big bang” (giả thuyết rằng có một vụ nổ lớn của vũ trụ để khai thiên lập địa), cũng không có không gian bao la chờ đợi để được lấp đầy. Không có không gian, cũng như không có gì cả. Chỉ có Vô Tướng – Nhất thể. Khi Nhất thể đã biểu hiện thành “mười nghìn thứ”, thì thình lình dường như có không gian và cũng “có” luôn nhiều thứ khác nữa. Nhưng không gian từ đâu đến? Có phải do Thượng Đế tạo ra để hình thành vũ trụ? Dĩ nhiên là không. Không gian có nghĩa là không có gì cả, cho nên không gian không bao giờ được tạo ra cả.

Bạn hãy nhìn lên bầu trời vào một đêm quang đãng. Hàng nghìn ngôi sao mà bạn thấy được bằng mắt cũng chỉ là một phần rất nhỏ của những gì đang hiện hữu. Với kính viễn vọng mạnh nhất, người ta đã phát hiện ra có hàng trăm tỷ thiên hà ở chung quanh ta; mỗi thiên hà lại là một vũ trụ riêng rẽ với hàng tỷ ngôi sao. Kinh sợ hơn nữa là sự vô tận của chính không gian, chiều sâu và sự tĩnh lặng làm nền cho mọi vẻ tráng lệ đó. Tương tự như thế, không có gì oai nghiêm và đáng kính nể hơn là sự bao la và vẻ tĩnh lặng vượt ngoài mọi cảm nhận của không gian. Tuy vậy không gian là cái gì? Chỉ là sự trống không, một khoảng trống lớn vô cùng, vô tận.

Những gì được thể hiện ra bên ngoài như là không gian trong vũ trụ được cảm nhận bằng lý trí và các giác quan của chúng ta chính là Vô Tướng đã được biểu hiện thành hình tướng. Đó là “hình hài” của Thượng Đế. Và điều kỳ diệu nhất: Cái tĩnh lặng và bao la tạo điều kiện cho vũ trụ “tồn tại” không phải chỉ hiện hữu trong không gian ở ngoài kia – mà sự tĩnh lặng và bao la đó cũng có mặt ở trong ta. Khi bạn hoàn toàn “hiện diện” một cách tuyệt đối, bạn sẽ đối diện với nó như là chiều không gian tĩnh lặng ở bên trong, hiện diện rất sâu sắc, nhưng không-một-thoáng-suy-tư nào của lý trí cả. Trong ta, sự tĩnh lặng và bao la ấy là về chiều sâu, chứ không phải chiều rộng. Khái niệm mở rộng về không gian rốt cuộc chỉ là một nhận thức sai lầm khi nói về độ sâu vô cùng – một thuộc tính của thực tại duy nhất vượt thoát mọi suy tư, lý luận.

Theo Einstein, không gian và thời gian không thể bị tách rời. Thật sự tôi không hiểu ông ấy muốn nói gì, nhưng tôi nghĩ Einstein cho thời gian là chiều thứ 4 của không gian. Ông ta gọi đó là “chuỗi không gian-thời gian”.

Đúng vậy. Những gì bạn cảm nhận như là không gian và thời gian rốt cuộc chỉ là ảo tưởng, nhưng chúng chứa đựng một sự thật cốt tủy. Chúng là hai thuộc tính căn bản của Thượng Đế, bất tận và miên viễn, được cảm nhận như hiện hữu ở bên ngoài bạn. Ở trong bạn, cả không và thời gian cũng có phần tương đương nội tại làm tiết lộ bản chất thực của chúng, cũng như bản chất của chính bạn. Trong khi không gian là cõi tĩnh lặng, không-có-những-suy-tưởng-miên-man và sâu lắng vô cùng thì phần tương đương nội tại của thời gian là sự hiện diện, là nhận thức về một thực tại vĩnh cửu. Bạn cần nhớ là ta không thể phân biệt cái gì là không gian, cái gì là thời gian. Khi bạn nhận ra rằng không gian và thời gian chính là biểu tượng của Vô Tướng – tức là sự hiện diện sáng tỏ, không-có-lý-trí-suy-tư – không gian và thời gian bên ngoài vẫn tiếp tục tồn tại đối với bạn, nhưng chúng trở thành không quan trọng đối với bạn nữa. Cuộc đời vẫn tiếp tục tồn tại, nhưng cuộc đời không còn trói buộc ta nữa.

Vì lẽ đó, mục tiêu tối hậu của cuộc đời không nằm trong bản thân cuộc đời mà ở sự vượt thoát khỏi những vướng mắc của cuộc đời. Cũng như bạn không thể nhận thức được không gian nếu không có những vật thể ở trong đó, cuộc đời cũng cần thiết để giúp chúng ta nhận ra được Vô Tướng. Chắc là bạn đã từng nghe câu nói trong đạo Phật: “Nếu không có mê mờ, thì sẽ không có giác ngộ”. Chính nhờ có cuộc đời và tối hậu là nhờ có “bạn” mà Vô Tướng kinh nghiệm được chính nó. Bạn có mặt ở cuộc đời này là để làm cho mục tiêu cao cả của vũ trụ được hiển bày. Nên sự có mặt của bạn trong cuộc đời này vô cùng quan trọng!

—–

 

HÃY ĐẾN VỚI CÁI CHẾT MỘT CÁCH CÓ Ý THỨC

 

Ngoài giấc ngủ không mơ như tôi đã nói, còn có một cánh cửa khác để đi vào Vô Tướng nữa, tuy bạn ít khi tự nguyện đi qua cánh cửa này. Đó là cánh cửa khi bạn đi vào Cõi Chết. Cánh cửa Vô Tướng sẽ mở ra rất ngắn ngủi lúc bạn đi vào cõi chết. Cho dù trong suốt cuộc đời mình, bạn đã bỏ lỡ tất cả các cơ hội để đạt được sự thức ngộ về tâm linh, thì cánh cửa Vô Tướng cuối cùng cũng sẽ mở ra cho bạn khi xác thân bạn chết đi(9).

Có rất nhiều người suýt chết thuật lại rằng họ đã cảm nhận được hình ảnh của cánh cửa này như là một vầng ánh sáng chói lọi khi họ kinh nghiệm cận kề với cái chết. Nhiều người trong số này cũng nói đến một cảm giác thanh bình đầy ân sủng và sự an lành sâu sắc. Trong cuốn “Tử Thư của Tây Tạng”(10) điều này được mô tả như là “vẻ chiếu sáng huy hoàng của quang ảnh không màu sắc của cõi hư không” mà cũng theo sách ấy, đó chính là “bản chất chân thực của chính bạn”. Cánh cửa này chỉ mở trong phút chốc và rất có thể bạn sẽ bỏ lỡ nếu bạn chưa bao giờ tiếp xúc được với cõi Vô Tướng trong đời mình. Hầu hết mọi người mang theo quá nhiều chống đối còn sót lại, mang theo quá nhiều sợ hãi, quá nhiều vướng mắc với những kinh nghiệm về cảm giác; hoặc thường tự đồng hóa mình với thế giới hình tướng. Vì vậy khi họ nhìn thấy cánh cửa, họ sẽ quay lui vì sợ hãi và rồi đánh mất ý thức. Hầu hết những gì xảy ra sau đó thường là tự động và vượt ra ngoài chủ ý của bạn. Cuối cùng, bạn lại đi thêm một vòng sinh tử khác. Sự hiện diện của họ chưa đủ mạnh để đạt được nhận thức về bất sinh, bất diệt.

Vậy thì khi tôi đi qua cánh cửa này không có nghĩa là tôi sẽ bị hoại diệt?

Cũng như với các cổng khác, bản chất thực sự sáng tỏ của bạn sẽ luôn tồn tại nhưng cá tính tạm thời của bạn thì không. Trong bất luận trường hợp nào, những gì chân thật hay có giá trị trong cá tính của bạn chính là bản chất chân thật của bạn, những tính chất đó sẽ được chiếu sáng từ bên trong. Những tính chất này sẽ không bao giờ bị mất đi. Không có cái gì có giá trị, hoặc chân thật có thể bị mất đi cả.

Tiến gần đến cái chết, và bản thân cái chết, tức là sự giải thể của cơ thể, hình hài vật lý này, luôn là một cơ hội lớn để bạn có sự giác ngộ về tâm linh. Bi thảm thay, chúng ta thường bỏ lỡ những cơ hội này nhiều lần, vì chúng ta đang sống trong một nền văn hóa mà hầu như mọi người hoàn toàn không biết tí gì về cái chết, cũng như hoàn toàn không biết tí gì về những giá trị chân thực.

Thực ra, mọi cánh cửa Vô Tướng đều dẫn đến cái chết, cái chết của cái tôi nhỏ bé, sai lầm. Khi bạn đi qua đó, bạn sẽ thôi không còn sai lầm khi nhận rằng mình chỉ là những biểu hiện của hình tướng tâm lý, hay trí năng tạo ra. Lúc đó bạn sẽ nhận ra rằng cái chết chỉ là một ảo tưởng, cũng giống như sự đồng nhất mình với hình tướng cũng là ảo tưởng sai lầm. Khi cái chết xảy đến, đó chính là lúc bạn chấm dứt ảo tưởng sai lầm đó, thế thôi. Chừng nào bạn còn bám víu vào những ảo tưởng sai lầm ấy thì lúc đó bạn mới còn cảm thấy khổ đau.

—–

 

Chú thích

  1. Phương pháp chú ý đến hơi thở là một bài tập rất quan trọng được Đức Phật viết thành một cuốn kinh có tên là “kinh Quán Niệm Hơi Thở” do nhà xuất bản Lá Bối ấn hành.
  2. Phương pháp quán tưởng: Một lối thiền tập dùng khả năng tưởng tượng, khả năng nhìn thấy của nhãn thức ngay cả khi ta đang nhắm mắt để hồi tưởng hay sáng tạo nên những hình ảnh trong tâm thức ta, giúp cho ta thiền tập.
  3. Bản chất Thượng Đế: hay còn gọi là Phật Tánh. Điều này muốn ám chỉ rằng Phật Tánh ở trong tất cả mọi sự, mọi vật, ở khắp mọi nơi.
  4. “Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc”: Điều này có nghĩa là sự biểu hiện của mọi sự, mọi vật đều do những điều kiện khác mới có thể xảy ra được, chứ không phải vì biểu hiện đó có một tự tánh độc lập. Đó là giáo lý Tương Tức. Ví dụ, thân thể chúng ta không thể biểu hiện nếu không có những điều kiện sống rất mật thiết như không khí, nước uống, rau quả làm thức ăn cho ta. Không khí có là nhờ lá cây xanh ở khắp mọi nơi, nên sự sống của chúng ta gắn liền với sự sống của cỏ cây, muông thú, đất đá và môi trường chung quanh ta. Và câu kinh này cũng nêu ra một sự thực về sự vắng bóng một tự tánh độc lập – Vô Ngã – của mọi hiện tượng. Đây chính là bản chất của mọi hiện tượng. Thân thể ta sau khi chết sẽ bị mục rã và trở về với 4 yếu tố lớn – Tứ Đại: đất, nước, gió, lửa. Đó là trạng thái ẩn tang của hiện tượng thân thể. Chúng ta biết rằng không có một cái gì từ có mà trở thành không, hay hoàn toàn bị mất đi, mà chỉ có sự biểu hiện khi nhân duyên đầy đủ, và ẩn tàng khi nhân duyên kết thúc.
  5. Vô Ngã: Trống rỗng, không có một tự tánh, hay tính chất độc lập, riêng biệt với mọi sự, mọi vật khác chung quanh.
  6. Thường xuyên sống trong nỗi sợ hãi: Vì không biết mặt mũi chân thật của mình là bất sinh, bất diệt nên chúng ta bám vào những biểu hiện tạm bợ của hình tướng như xác thân, sinh mệnh, tài sản, nghề nghiệp,… của mình. Nhưng bản chất của những biểu hiện này là tạm thời và rất không bền, nên ta đâm ra lo sợ: sợ mất mát, sợ chết, sợ xác thân ta sẽ bị hoại diệt.
  7. “A Course in Miracles”: Một cuốn sách được viết trong thời gian gần đây. Cuốn sách này hướng dẫn những phương pháp thực tập mà bạn có thể làm được, thực tập này giúp bạn tạp ra những chuyển hóa sâu sắc cho chính mình. Sự chuyển hóa này nhiều khi quá kỳ diệu đến độ người ta có thể gọi đó là những phép lạ.
  8. Khi Nhất Thể trở thành lưỡng cực, rồi lưỡng cực, trở thành tứ tượng,… trở thành “Mười nghìn thứ”: Ý nói khi Vô Tướng đã phân cực, từ một thành hai, hai thành ra bốn, bốn thành ra tám,… và trở thành “mười nghìn thứ”, tức Lão Tử muốn nói là khi Vô Tướng đã trở thành sự biểu hiện của toàn thể thế giới vật chất này.
  9. Khi xác thân chết đi: Đó là khi ta trả lại cho cuộc đời tất cả những gì không phải là ta: Hình hài này, tài sản, công danh, sự nghiệp,… những thứ mà nhiều người đã đổ dồn hết sức lực và cuộc đời của họ để chăm sóc, lưu trữ… mà quên đi những gì chân thực và giá trị khác trong đời sống: Tình yêu gia đình, vợ chồng, tình bạn, lòng trắc ẩn, sự thong dong,… Kinh nghiệm mà chúng ta gọi là cái chết, theo “Tử Thư của Tây Tạng” chỉ là sự trở về Nguồn, trở về nhà, trở về với Vô Tướng của mỗi người trong chúng ta. Vô Tướng, sự sống bất sinh, bất diệt mới chính là bản chất chân thật của chúng ta. Nên khi bạn sinh ra làm một con người, đó là lúc Vô Tướng, từ trạng thái ẩn tàng đi sang trạng thái biểu hiện, biểu hiện qua sự riêng biệt của cá nhân bạn, để Vô Tướng có thể kinh nghiệm thế nào là riêng biệt, thế là cách biệt với Nguồn. Nên đến khi xác thân bạn chết đi, đó chỉ là lúc bạn sẽ trở về lại căn nhà của mình, với Vô Tướng, và bước sang trạng thái ẩn tang.

“Tử Thư của Tây Tạng”: Một cuốn sách, được dịch sang tiếng Anh với tựa là “Tibetian Book of the Dead”, nói về những giai đoạn chuyển tiếp mà chúng ta sẽ trải qua khi đi vào cõi chết.

CHƯƠNG VI: CƠ THỂ NĂNG LƯỢNG BÊN TRONG BẠN(1) – HIỆN HỮU LÀ CHÂN NGÃ(2) THÂM SÂU NHẤT CỦA BẠN

Ông có nói về tầm quan trọng để tạo được gốc rễ sâu bền ở bên trong hay an trú(3)trong cơ thể mình: Xin giải thích thêm?

Thân thể có thể trở thành cánh cửa đưa bạn đi vào lĩnh vực Hiện Hữu. Bây giờ chúng ta hãy đi sâu vào đề tài đó.

Tôi vẫn chưa hiểu lắm những gì ông nói về Hiện Hữu.

Nếu có ai hỏi một con cá: “Nước là gì?” thì con cá sẽ trả lời: “Nói cái gì kỳ cục vậy, thực ra ông muốn nói gì vậy? Tôi không thể hiểu được”. Vâng, nếu cá có khả năng nói được tiếng người, nó sẽ trả lời như vậy.

Xin đừng gắng hiểu nghĩa của từ Hiện Hữu. Bạn đã hé thấy nó vài lần rồi, nhưng lý trí ta luôn muốn nhét nó vào một cái hộp bé nhỏ (của khái niệm) và dán cho nó một cái tên. Đó là một điều không thể làm được. Hiện Hữu không thể là một đối tượng của trí năng để bạn thu thập như thu thập một dữ kiện hay kiến thức. Vì trong Hiện Hữu, chủ thể và đối tượng đã hòa nhập với nhau làm một(4).

Hiện Hữu có thể được cảm nhận như là cái-biết-luôn-thường-còn, bất-diệt ở trong ta, vượt lên trên tên gọi và hình tướng(5). Việc cảm nhận để biết được ta là cái gì và an trú thường xuyên ở trong trạng thái cắm rễ sâu xa đó chính là giác ngộ. Đó là cái tự biết mà Chúa Jesus thường nói: “Sự thật ấy sẽ giải thoát bạn”.

Giải thoát khỏi cái gì?

Giác ngộ giúp ta thoát khỏi ảo tưởng rằng “tôi chỉ là thân xác và suy tư này thôi”. Ảo tưởng của bạn cho rằng có một cái Tôi biệt lập(6), không dính gì đến mọi thứ chung quanh cả. Phật gọi đó là sai lầm chủ yếu của chúng ta. Giác ngộ giải thoát ta khỏi hậu quả tất yếu của ảo tưởng đó, chính là cảm giác sợ hãi dưới muôn hình muôn vẻ của nó. Nỗi sợ hãi còn tra tấn ta chừng nào ta còn đồng hóa, cho rằng mình chỉ là thân thể, hình hài chóng tàn hoại và dễ bị tổn thương này. Sự giác ngộ giải thoát ta khỏi cảm giác “tội lỗi”, tức là những khổ đau mà bạn vì không biết nên đã gây ra cho chính mình hoặc cho người khác.

—–

 

VƯỢT LÊN TRÊN NGÔN TỪ

 

Tôi không thích từ “tội lỗi”, vì nó khiến tôi cảm thấy mình đang bị phán xét và bị cho là phạm lỗi.

Tôi thông cảm với bạn điều đó. Nhiều thế kỷ qua, có nhiều quan điểm, và cách diễn dịch sai lầm quanh từ “tội lỗi”, do ngu dốt, hiểu lầm hay do tham vọng trấn áp, nhưng từ này vẫn chứa đựng một sự thật rất cốt tủy. Nhưng nếu bạn không thể vượt lên trên những suy diễn như thế, và do vậy không thể nhận ra cái thực tiễn mà nó chỉ ra cho bạn, thì bạn đừng dùng nó. Đừng vướng mắc vào ngôn từ. Ngôn từ chỉ là phương tiện giúp ta đi đến cứu cánh. Nó chỉ là một ý niệm trừu tượng. giống như một bảng chỉ đường. Từ ngữ hướng đến một cái gì vượt lên trên chính nó. Chữ mật ong đâu phải là mật ong(7). Ta có thể nghiên cứu và bàn luận về mật ong tùy thích, nhưng chỉ khi ta thực sự nếm được mật ong, ta mới biết được mật ong. Một khi ta đã nếm được mật ong thì danh từ đó không còn quan trọng đối với ta nữa. Ta sẽ không còn vướng mắc vào từ ngữ đó nữa. Tương tự như thế, bạn có thể suốt đời luôn nói hoặc nghĩ về danh từ “Thượng Đế”, nhưng liệu điều đó có giúp bạn biết được hay hé thấy được cái thực tại mà danh từ đó muốn nói đến hay không? Điều này có thể được xem như là một sự ám ảnh, vướng mắc vào một bảng chỉ đường, một thần tượng tinh thần, không hơn không kém.

Ngược lại, nếu vì một lý do nào đó, bạn không thích chữ mật ong, thì điều đó có thể ngăn bạn biết được mật ong là gì. Nếu bạn có một phản ứng ghét bỏ rất mạnh mẽ chữ Thượng Đế, tức là một dạng vướng mắc tiêu cực, bạn có thể đang chối bỏ không những danh từ đó mà bạn còn chối bỏ luôn thực tại mà danh từ đó muốn hướng đến. Có thể bạn đang cắt mình ra khỏi khả năng trải nghiệm thực tại đó. Dĩ nhiên là tất cả những vấn đề này đều có liên quan đến vấn đề căn bản: vì thiếu hiểu biết, bạn đã tự đồng hóa mình với những suy tư, cảm xúc tiêu cực của mình.

Do vậy nếu bạn cảm thấy có một từ ngữ nào đó không có ích nữa, hãy buông bỏ từ đó và thay vào một từ khác có tác dụng cho bạn hơn. Cho nên nếu bạn không thích từ tội lỗi thì hay thay bằng từ mê lầm hay điên rồ cũng được. Điều này có thể giúp bạn tiếp cận được với chân lý, với thực tại đằng sau một danh từ hơn là một từ ngữ cũ kỹ, đã bị lạm dụng lâu đời như từ tội lỗi và điều này sẽ giúp cho bạn bớt đi cảm giác phạm tội.

Tôi cũng không thích những từ này. Vì nó ám chỉ là tôi đang có vấn đề gì đó. Như là tôi đang bị phán xét.

Dĩ nhiên là bạn đang có vấn đề gì đó rồi – nhưng không phải bạn đang bị phán xét.

Tôi hỏi điều này không phải vì muốn xúc phạm bạn, nhưng chẳng phải bạn thuộc về giống người đã giết hại hơn một trăm triệu đồng loại của mình, chỉ riêng trong thế kỷ 20 này sao?

Ông muốn nói là tôi phạm tội liên đới?

Đây không phải là vấn đề lầm lỗi. Nhưng chừng nào mà bạn còn bị lý trí và bản ngã ở trong bạn chi phối, thì bạn cũng là một phần của tình trạng điên rồ của tập thể. Có thể bạn chưa nhìn sâu vào hoàn cảnh của con người đang ở trong tình trạng bị kiềm chế bởi lý trí và bản ngã. Hãy mở mắt ra và nhìn cho rõ nỗi sợ hãi, thất vọng, lòng tham đắm, và tình trạng bạo hành lan tràn khắp nơi. Hãy nhìn cho rõ sự tàn ác dã man và khổ đau ngoài sức tưởng tượng mà con người đã gây ra và tiếp tục gây ra cho đồng loại cũng như cho các loài khác trên trái đất này. Chỉ nhìn thôi. Không cần phải chỉ trích. Đó chính là tội lỗi. Đó là sự điên rồ. Đó là vì sự thiếu hiểu biết, vì vô minh. Nhưng trên hết, bạn đừng quên tự quan sát những suy tư của chính mình. Hãy tìm ra cội rễ của sự điên rồ ngay ở trong mình.

—–

 

NHẬN RA BẠN CHÍNH LÀ THỰC TẠI VÔ HÌNH TƯỚNG VÀ TRƯỜNG CỬU

 

Ông có nói rằng đồng nhất mình với thân xác hữu hình chính là một phần sai lầm của ảo tưởng, vậy làm thế nào mà thân thể – tức là dạng vật chất hữu hình đó – có thể đưa ta đến với sự Hiện Hữu?

Thân xác mà bạn đang sở hữu, có thể nhìn thấy, có thể cảm nhận, có thể đụng chạm được đó không thể đưa bạn đến với Hiện Hữu. Cái thân thể hữu hình đó chỉ là một cái vỏ bên ngoài, hay đúng hơn là một khái niệm giới hạn và méo mó của trí năng về một thực tại sâu xa hơn ở bên trong. Trong trạng thái liên hệ tự nhiên với Hiện Hữu, thực tại sâu xa này có thể được cảm nhận trong mỗi phút giây như là phần thân thể vô hình bên trong, sự hiện hữu sống động ở trong bạn. Vì vậy “an trú trong cơ thể” là cảm nhận cơ thể mình từ bên trong, cảm nhận sự sống bên trong thân thể, qua đó biết được ta là ai, vượt lên trên hình hài bên ngoài này.

Nhưng đó chỉ mới là bước khởi đầu của một cuộc hành trình khám phá thế giới bên trong, đưa bạn đi sâu vào cõi tĩnh mặc và an bình tuyệt đối, nhưng đồng thời cõi đó cũng chính là bạn. Bạn chính là đời sống sinh động đang diễn ra từng phút từng giây, khắp mọi nơi trong vũ trụ. Lúc đầu, có thể bạn chỉ cảm nhận được trong thoáng chốc trạng thái sâu thẳm đó, qua đó bạn hiểu rằng mình không phải chỉ là một mảnh vụn vô nghĩa trong cái vũ trụ bao la, bị treo giữa sự sống và cái chết ngắn ngủi, hay vài thú vui chóng tàn, theo sau là khổ đau và cuối cùng là bị hoại diệt. Bên dưới hình hài này, bạn đang là một phần của một cái gì đó thật lớn lao, linh thiêng và vô cùng. Cái-không-thể-nói hay hình-dung-ra-được đó – thế mà tôi lại đang nói về điều đó – thực ra không phải để thuyết phục bạn tin theo đâu, mà chỉ để giúp bạn nhận diện ra điều hiển nhiên ấy ở trong mình.

Chừng nào mà toàn bộ sự chú tâm của bạn còn bị chi phối bởi những suy tư, cảm xúc không chủ đích ở trong bạn, thì khi đó bạn vẫn còn bị tách biệt với Hiện Hữu. Khi điều này xảy ra – và vẫn đang xảy ra liên tục cho hầu hết mọi người – bạn sẽ “không có mặt” ở trong cơ thể của mình. Suy tư không chủ đích của bạn sẽ thu hút tất cả sự chú tâm của bạn và biến nó thành chất liệu của những suy tư không chủ đích của trí năng. Ta không thể ngừng lại lối suy tư không chủ đích này. Sự bó buộc trong lối suy tư kiểu này đã trở thành một căn bệnh của tập thể. Cảm nhận hoàn toàn về mình là ai, lúc đó chỉ còn dựa vào những hoạt động giới hạn của trí năng. Vì không cắm rễ được với Hiện Hữu, nên nhận diện về tự thân mình – bản chất chân thực của mình là cái gì – đã trở thành một cấu trúc trí năng mong manh và đầy lệ thuộc, do đó dễ tạo ra một nỗi sợ hãi thường trực ở trong lòng. Điều duy nhất thực sự có giá trị mà bạn đang khiếm khuyết: Nhận thức về chân ngã thâm sâu bên trong bạn – thực tại không-thể-hình-dung và bất diệt của bạn.

Để ý thức được Hiện Hữu, bạn cần phải hướng sự tập trung để đưa nhận thức của mình ra khỏi lý trí. Đây là công việc cơ bản nhất của cuộc hành trình tâm linh của bạn. Điều này sẽ giải thoát phần lớn tâm thức của bạn trước đây vốn bị mắc kẹt triền miên trong lối suy nghĩ bó buộc và vô ích. Để làm được điều này, có một cách rất hữu hiệu là đưa sự chú ý của bạn ra khỏi những suy nghĩ và hướng nó vào bên trong thân thể, ở đó Hiện Hữu có thể được cảm nhận ngay lập tức, như là một trường năng lượng vô hình, cung cấp sự sống cho những gì bạn cảm nhận như là cơ thể của mình.

—–

 

TIẾP XÚC VỚI CƠ THỂ NĂNG LƯỢNG BÊN TRONG

 

Bài tập 6.a: An Trú Trong Thân Thể Mình

Giờ ta làm thử. Nếu bạn nhắm mắt lại để thực tập thì tốt hơn. Sau này, khi thực tập “an trú trong thân thể mình” đã trở thành dễ dàng và tự nhiên hơn thì bạn không cần phải nhắm mắt. Hãy hướng sự chú ý của mình vào thân thể. Cảm nhận từ bên trong. Nó đang sống phải không? Có sự sống trong hai cánh tay, bàn tay, hai chân và bàn chân, ở trong bụng, trong ngực không? Bạn có cảm nhận được trường năng lượng tinh tế lan tràn khắp cơ thể và cung cấp sự sống rộn ràng cho mọi cơ quan và tế bào trong cơ thể? Bạn có thấy nó là trường năng lượng duy nhất được cảm nhận đồng thời ở khắp các nơi trong cơ thể? Bạn hãy tập trung cảm nhận bên trong cơ thể trong một thời gian. Tránh đừng suy nghĩ về nó. Chỉ cảm nhận thôi. Chú ý càng nhiều thì cảm nhận này càng rõ ràng và mạnh mẽ. Có vẻ như mọi tế bào đều sống động hơn, và nếu bạn có năng khiếu tinh tế về quán tưởng, bạn có thể cảm nhận được hình ảnh cơ thể của mình phát sáng lên. Dù một hình ảnh như thế nhất thời là tốt, hãy tiếp tục chú ý đến cảm nhận hơn là bất kỳ một hình ảnh nào khởi lên. Một hình ảnh, dầu đẹp đẽ hay mạnh mẽ thế nào, cũng chỉ là một hình tướng; không cung cấp cho bạn thêm phạm vi để thâm nhập sâu hơn vào Hiện Hữu.

—–

Cảm nhận về thân thể bên trong là cảm nhận một cái gì không hình tướng, không giới hạn và sâu xa vô cùng. Ta luôn có thể thâm nhập vào đó sâu hơn. Nếu lúc này ta không cảm nhận được nhiều, thì hãy chú ý đến bất cứ cái gì mình đang “có thể” cảm nhận được. Có thể đó chỉ là một cảm giác hơi tê ở đầu ngón tay hay chân, cũng tốt. Chỉ chú ý đến cảm nhận. Thân thể của bạn đang dần dần sống lại. Sau đó, chúng ta sẽ luyện tập thêm nữa. Lúc này bạn có thể mở mắt được rồi, nhưng khi nhìn quanh phòng, bạn vẫn nên giữ một phần sự chú tâm của mình vào trường năng lượng bên trong cơ thể. Cái cơ thể bên trong này nằm ở ngưỡng cửa giữa biểu hiện hình tướng và biểu hiện của vô tướng – bản chất thực sự của bạn. Đừng bao giờ đánh mất bản chất chân thực, vô hình tướng của mình.

—–

 

CHUYỂN HÓA QUA CƠ THỂ MÌNH

 

Tại sao hầu hết các tôn giáo đều phê phán và khước từ cơ thể? Có vẻ như những người theo đuổi giác ngộ luôn xem thân thể là vật cản trở hoặc thậm chí là tội lỗi.

Tại sao rất ít những người theo đuổi giác ngộ trở thành những người đắc đạo?

Về mặt cơ thể, con người rất giống với con vật. Tất cả chức năng cơ thể căn bản của ta đều giống với loài vật: thú vui, đau đớn, thở, ăn uống, bài tiết, ngủ, bản năng đi tìm bạn gối chăn và sinh sản, dĩ nhiên là cả sống và chết. Thuở xưa sau khi loài người bị thất sủng và tách biệt với Nhất Thể, với Cội Nguồn của mình(8), thình lình những con người ấy tỉnh giấc và chợt nhận ra là mình đang ở trong một cơ thể thú vật và điều này làm họ rất khó chịu. Giọng nói của bản ngã cứ vang vang ở trong đầu: “Thôi đừng tự lừa dối mình nữa. Mày chỉ là một con vật, không hơn. Điều này dường như một sự thật đang trừng trừng đối diện trước mặt họ, không thể trốn tránh được. Đó là một sự thật quá phũ phàng và khó mà chấp nhận được. Adam và Eva đã nhận ra mình đang lõa thân, và họ quá sợ hãi. Ngay lập tức họ liền khước từ, một cách vô ý thức, bản năng thú tính của mình. Con người nguyên thủy thường cảm nhận một mối đe dọa từ việc có thể bị bản năng thú tính rất mạnh ở trong mình chế ngự, và tình trạng bị buộc phải trở về với trạng thái vô minh hoàn toàn của thú vật là một điều rất có thể xảy ra. Nỗi hổ thẹn và những cấm kị xuất hiện đối với một số bộ phận trên cơ thể họ, với những chức năng của cơ thể và đặc biệt là chức năng dục tình. Ánh sáng nhận thức của con người lúc đó chưa đủ mạnh để làm quen với bản chất thú tính này, để cho bản năng đó được tự nhiên và thậm chí tận hưởng những khía cạnh đó của con người. Chưa nói gì đến chuyện đi sâu vào đó để nhìn ra cái siêu phàm ẩn giấu ở bên trong – thực tại nằm trong cái ảo tưởng sai lầm. Vì vậy, trong vô minh đó, con người nguyên thủy chỉ làm những gì họ cần phải làm. Họ bắt đầu cách ly khỏi cơ thể của mình. Họ xem như họ “có” một thân thể, chứ không phải an nhiên “là” thân thể đó.

Khi tôn giáo xuất hiện, sự cách ly này càng bị biến thành niềm tin “bạn không phải là cơ thể bạn”. Rất nhiều người ở phương Đông cũng như phương Tây qua nhiều thời đại đã cố tìm ra Thượng Đế, cứu rỗi và giác ngộ thông qua việc khước từ cơ thể, dưới hình thức khước từ những cảm giác vui sướng, đặc biệt là khước từ dục tình qua việc ăn chay(9) và những lối tu khổ hạnh khác. Thậm chí họ còn gieo đau đớn cho cơ thể vì muốn làm giảm đi những cảm giác bình thường của cơ thể hay trừng phạt nó vì họ xem cơ thể là tội lỗi. Với Cơ Đốc giáo, điều này thường được gọi là thực tập hành hạ thân xác(10). Có người còn muốn trốn chạy thân thể bằng cách đi vào những trạng thái nhập đồng hoặc tìm những kinh nghiệm trong việc xuất hồn. Tương truyền ngày xưa khi còn chưa đắc đạo. Phật cũng đã thực tập ăn chay và các hình thức khổ hạnh khác để khước từ thân thể trong sáu năm, nhưng Ngài không chứng Đạo cho đến khi Ngài từ bỏ lối tu này.

Thực tế là chưa có ai đạt đến giác ngộ qua chuyện khước từ, hành xác hay kinh nghiệm xuất hồn. Dù những kinh nghiệm như thế có thể rất hấp dẫn và giúp bạn hé thấy được sự tự do khi thoát khỏi hình hài vật chất này, nhưng rốt cuộc bạn vẫn phải trở về với cơ thể của mình, nơi những chuyển hóa thiết yếu xảy ra. Chuyển hóa là chuyển hóa qua cơ thể, chứ không phải là ngoài cơ thể. Điều này giải thích tại sao không có bậc thầy chân chính nào cổ vũ việc hành hạ hay tách ly khỏi cơ thể, dù nhiều đệ tử đang bị-kềm-tỏa-bởi-trí-năng của họ vẫn thường làm.

Trong số những giáo lý cổ truyền liên quan đến thân thể, chỉ còn lại một vài mảnh rời rạc là còn lưu lại, ví dụ như lời Chúa Jesus nói “Cơ thể con sẽ tràn đầy ánh sáng”. Hay chỉ lưu truyền lại như những huyền thoại, như chuyện tin rằng Chúa Jesus không bao giờ từ bỏ cơ thể của Ngài, mà Ngài, với hình hài vật chất đó, đi lên “thiên đàng”. Cho đến ngày nay, hầu như không ai hiểu được những mẩu chuyện đó hay ý nghĩa ẩn giấu của những huyền thoại đó, và niềm tin “bạn không phải là cơ thể bạn” vẫn còn thống trị nhiều nơi, tạo ra sự khước từ và cố gắng thoát ly khỏi thân xác. Biết bao nhiêu người đi tìm đạo vì thế mà không đạt được tỉnh thức cho chính mình để trở thành các bậc khai sáng.

Có thể nào khôi phục lại những lời răn dạy đã thất truyền về tầm quan trọng của thân thể hay xây dựng lại những giáo lý đó từ những mẩu rời rạc còn sót lại không?

Không cần thiết. Tất cả những răn dạy về tâm linh đều phát xuất từ một Nguồn. Trong ý nghĩa đó, trước đây và bây giờ chỉ có một bậc thầy, được thể hiện ra nhiều dạng khác nhau. Tôi là bậc thầy đó và khi bạn tiếp cận được với Nguồn bên trong thì bạn cũng vậy. Và cách tiếp cận là qua thân thể bên trong của bạn. Dầu tất cả lời dạy về tâm linh đều xuất phát từ một Nguồn, nhưng khi được thể hiện ra thành văn và được viết ra, chúng chỉ còn là một tập hợp từ ngữ – và như đã nói, ngôn từ chỉ là một cái bảng chỉ đường. Tất cả những lời dạy chỉ có ý nghĩa như những bảng chỉ đường giúp ta tìm ra một con đường trở về Nguồn Cội.

Tôi đã nói về cái Chân Lý còn ẩn sâu trong cơ thể bạn, ở đây tôi chỉ tóm tắt lại lần nữa những lời răn dạy đã thất truyền của các bậc thầy – tức là một bảng chỉ đường khác. Khi đọc hay nghe, bạn hãy gắng cảm nhận phần thân thể bên trong của bạn.

—–

 

 

BÀI THUYẾT PHÁP VỀ THÂN THỂ

 

Những gì bạn cảm nhận như là cấu trúc vật chất đông đặc mà ta gọi là cơ thể – cái phải chịu bệnh tật, tuổi già và cái chết – rốt cuộc lại không có thật và cũng không phải là bản chất của bạn. Đó chỉ là cảm nhận sai lầm do những giới hạn của trí năng bị mất liên hệ với Hiện Hữu tạo nên. Nó tạo ra cơ thể để làm bằng chứng cho những niềm tin sai lầm vào sự phân ly và để biện minh cho trạng thái sợ hãi của nó. Nhưng bạn cũng đừng vì thế mà quay lưng với cái thân thể đó, vì bên trong cái biểu tượng của vô thường, của giới hạn và cái chết do sự tạo dựng mê mờ của lý trí đó, lại ẩn giấu vẻ huy hoàng của một thực tại cốt yếu và bất tử của bạn. Bạn đừng đi tìm Chân Lý ở đâu khác, vì nó chẳng ở đâu cả, ngoại trừ bên trong cơ thể của bạn.

Đừng kình chống với cơ thể, vì làm vậy là bạn chống lại thực tại của chính mình. Bạn chính “là” cơ thể vô hình ở trong bạn. Cái cơ thể mà bạn có thể nhìn thấy và đụng chạm được chỉ là một tấm màn ảo giác mỏng. Vì bên trong nó còn có phần cơ thể vô hình ở phía trong, cánh cửa để bạn đi vào Hiện Hữu, vào Sự Sống Vô Tướng. Qua thân thể bên trong, bạn nối kết được một cách không thể nào phân ly với Sự Sống Duy Nhất này – cái thực tại vô biên, bất sinh, bất diệt.

—–

 

TẬP TRUNG SỰ CHÚ Ý CỦA BẠN VÀO CƠ THỂ BÊN TRONG

 

Điều quan trọng là hãy luôn an trú trong trạng thái hợp nhất thường xuyên với cơ thể bên trong – cảm nhận sự hợp nhất đó bất kỳ lúc nào. Điều này sẽ giúp bạn nhanh chóng chuyển hóa và cắm rễ sâu sắc vào đời sống của bạn. Càng chú tâm vào cơ thể bên trong của bạn chừng nào, thì tần số rung của nó càng được khuếch đại hơn, tựa như bóng đèn sẽ sáng hơn khi ta vặn nút chỉnh độ sáng lên, và làm gia tăng dòng điện. Ở cấp độ năng lượng cao này, những thái độ tiêu cực không còn ảnh hưởng đến bạn nữa và bạn có khuynh hướng thu hút những tình huống mới tích cực hơn, phản ảnh tần số cao hơn này.

Nếu bạn hướng sự chú tâm của mình vào bên trong cơ thể bạn càng nhiều, thì bạn càng tiếp xúc được với phút giây hiện tại. Bạn không còn tự đánh mất mình vào thế giới bên ngoài, hoặc bị lôi cuốn bởi những suy tư không chủ đích, hoặc những cảm xúc miên man ở trong mình. Suy nghĩ và cảm xúc, nỗi sợ và lòng tham đắm vẫn còn trong một mức độ nào đó, nhưng chúng không còn khống chế được bạn nữa.

Xin hãy để ý xem, ngay trong phút giây này, bạn đang chú tâm vào chuyện gì. Bạn có đang lắng nghe tôi, hay chỉ đang đọc những dòng chữ này trong sách. Đó là nơi tập trung sự chú tâm của bạn. Ngoài ra, bạn cũng nên chú ý phần nào đến những gì đang xảy ra chung quanh bạn, những người khác, v.v… Hơn nữa, khi chú tâm, bạn cũng có thể nhận ra có những hoạt động của trí năng quanh những gì bạn đang đọc hay nghe, có những tiếng bình phẩm vang vọng ở trong đầu bạn. Tuy nhiên, bạn không cần để cho điều nào kể trên choán “hết” tất cả sự chú tâm của bạn. Thử xem là cùng lúc bạn có thể liên hệ được với cơ thể năng lượng của mình ở bên trong không. Hãy giữ một ít sự chú tâm của mình ở bên trong. Đừng để nó trôi tuột hết qua những gì đang xảy ra ở bên ngoài. Cảm nhận cơ thể từ bên trong, như là một trường năng lượng nguyên vẹn. Lúc đó, bạn như đang nghe hoặc đọc với toàn bộ cơ thể của mình. Hãy thực tập điều này trong những ngày, những tuần sắp đến.

Đừng hướng toàn bộ sự chú tâm của bạn vào những suy tư không chủ đích hay vào thế giới bên ngoài. Bằng mọi cách, hãy chú tâm vào những gì bạn đang làm, nếu được, thì đồng thời hãy cảm nhận cơ thể bên trong của mình. Cắm rễ vào bên trong. Sau đó hãy quan sát việc thực hành này đã thay đổi trạng thái nhận thức của bạn và chất lượng những gì bạn đang làm như thế nào. Khi nào bạn đang chờ đợi, bất kỳ ở đâu, hãy dùng thời gian đó để cảm nhận thân thể năng lượng ở bên trong của mình. Như thế, kẹt xe hoặc đứng xếp hàng cũng có thể trở thành một điều rất lý thú. Thay vì phóng tâm ra khỏi Hiện tại, bạn hãy đi sâu vào Hiện tại bằng cách đi sâu vào cơ thể.

Nghệ thuật nhận thức cơ thể từ bên trong sẽ phát triển thành một lối sống hoàn toàn mới – trạng thái an trú thường xuyên hơn với Hiện Hữu – qua đó cuộc sống của bạn sẽ có chiều sâu hơn, điều mà trước đây bạn chưa hề có.

Khi bạn cắm rễ vững chắc ở trong cơ thể mình thì chuyện an trú trong phút giây hiện tại, làm một người im lặng quan sát những suy tư ở trong mình, sẽ trở thành một điều không khó. Không còn bất kỳ chuyện gì xảy ra ở bên ngoài mà có thể lay chuyển được bạn.

Trừ phi bạn có mặt trong phút giây hiện tại – và luôn có mặt trong cơ thể mình – bạn sẽ còn tiếp tục bị chi phối bởi những suy tư không chủ đích. Những kịch bản cũ kỹ ở trong đầu mà bạn đã học được từ lâu – những hoàn cảnh, thói quen suy tư không kiểm soát được của lý trí – sẽ quy định lối nghĩ cũng như hành vi của bạn. Có thể bạn tự do trong một vài giây phút ngắn ngủi nào đó, nhưng hiếm khi tình trạng đó được kéo dài. Điều này đặc biệt đúng khi có gì đó “trục trặc”, khi có sự mất mát hay buồn bực. Lúc đó những phản ứng bị định đặt, không kiểm soát được, tự động hóa và dễ đoán trước được của bạn, sẽ bị khích động bởi một xúc cảm cơ bản ẩn sau trạng thái nhận thức tự đồng hóa mình với lý trí: Đó là nỗi sợ hãi.

Vì vậy khi những thử thách xảy ra, và chúng xảy ra rất thường xuyên, bạn hãy tạo một thói quen đi sâu ngay vào bên trong cơ thể và tập trung càng nhiều càng tốt vào trường năng lượng bên trong của cơ thể bạn. Bạn không phải mất nhiều thì giờ đâu, mà chỉ cần vài giây. Nhưng bạn cần phải làm ngay khi thử thách phát sinh. Chậm trễ sẽ làm cho phản ứng lý trí-tình cảm tiêu cực bị điều kiện hóa(11) sẽ nảy sinh, và chúng sẽ khống chế bạn. Khi bạn tập trung vào bên trong và cảm nhận cơ thể năng lượng ở bên trong của mình, ngay lập tức bạn sẽ trở nên tĩnh lặng và có mặt vì bạn đang tách nhận thức ra khỏi lý trí. Nếu lúc đó bạn cần có một phản ứng, phản ứng này cũng nảy sinh từ một mức độ sâu xa hơn của Hiện Hữu. Cũng như mặt trời thì dứt khoát chiếu sáng hơn là ngọn nến, có nhiều sự thông thái từ Hiện Hữu hơn là từ lý trí của ta.

Chừng nào bạn còn tiếp xúc có ý thức với cơ thể ở bên trong, bạn sẽ như một thân cây cắm rễ sâu vào trong đất, hay làa một tòa nhà có nền móng vững sâu. Chúa Jesus đã dùng lối so sánh này trong một câu chuyện thường hay bị hiểu sai về hai người đàn ông xây một ngôi nhà. Một người xây trên cát, không có móng vững, khi bão lũ kéo đến, ngôi nhà bị cuốn trôi. Người kia “đào móng sâu” cho đến khi móng chạm lớp đá sâu ở dưới đất, rồi mới xây nhà, căn nhà này không bị lũ cuốn trôi.

—–

 

HÃY MỞ LÒNG BAO DUNG TRƯỚC KHI ĐI VÀO BÊN TRONG CƠ THỂ

 

Tôi cảm thấy rất khó chịu khi cố hướng sự chú tâm vào bên trong cơ thể. Tôi có cảm giác khó chịu và buồn nôn. Vì vậy tôi không thể kinh nghiệm được những gì ông đang nói.

Những gì bạn đang cảm thấy chỉ là một cảm xúc chưa nguôi, còn rơi rớt lại mà bạn không nhận ra trước đây, cho đến khi bạn bắt đầu hướng một ít chú tâm vào cơ thể mình. Trừ phi bạn chú tâm vào những cảm xúc đó, nếu không, nó sẽ ngăn không cho bạn đi vào bên trong cơ thể, phần nội thân nằm ở một tầng sâu hơn, bên dưới những cảm xúc đó. Chỉ cần chú tâm thôi chứ bạn không cần phải khởi sự “suy nghĩ”về những cảm xúc ấy. Quan sát những cảm xúc đó trong im lặng, cảm nhận nó trọn vẹn, tức là thừa nhận và chấp nhận để cho nó được như thế. Có một số cảm xúc thông thường, bạn rất dễ nhận ra như giận dữ, sợ hãi, đau buồn… Một số khác thì bạn sẽ khó gọi cho đúng tên. Có thể vì chúng là những cảm xúc mơ hồ như khó chịu, nặng nề hay một cái gì đó dồn nén, nằm ở ranh giới giữa cảm xúc và sự kích động trong cơ thể. Dầu gì đi nữa thì vấn đề ở đây không phải là bạn có thể dán một nhãn hiệu nào đó cho cảm xúc, mà thực ra là bạn có khả năng để mang những cảm xúc đó vào trong ý thức của bạn được bao nhiêu. Sự chú tâm trong yên lặng, không phê phán, vào những cảm xúc tiêu cực đang có ở trong lòng chính là chìa khóa của sự chuyển hóa – và khi bạn có sự chú tâm hoàn toàn vào một cảm xúc, đó là khi bạn dễ dàng đi đến sự chấp nhận nỗi khổ ấy. Sự chú tâm của ta giống như một chùm ánh sáng – tức là năng lực tập trung của nhận thức để chuyển đổi mọi thứ từ vô minh thành ánh sáng, thành tự thân của nhận thức(12).

Trong một cơ thể hoạt động hoàn toàn, một cảm xúc có tuổi thọ rất ngắn. Nó giống như một gợn sóng trên bề mặt Hiện Hữu của ta. Tuy nhiên, khi ta không có mặt ở bên trong thì cảm xúc đó có thể lây lất nhiều ngày hay nhiều tuần, hay nhiều khi kết hợp với những cảm xúc khổ sở khác có tần số tương tự và trở thành khối khổ đau lớn ở trong ta. Những cảm xúc đó như một loại ký sinh trùng có thể sống ở trong bạn nhiều năm, ăn mòn sức lực bạn, đưa đến nhiều bệnh tật về thể xác, và làm cho đời bạn khốn khổ (xem chương 2).

Cho nên, bạn hãy chú tâm vào cảm nhận những cảm xúc tiêu cực, thử xem lý trí của bạn đang bám vào kiểu bất bình nào đó như là trách móc, tự thương xót hay căm ghét – chúng là thức ăn nuôi sống những cảm xúc tiêu cực đó. Nếu quả như thế, tức là bạn chưa thực sự tha thứ. Có thể bạn không tha thứ cho một người nào đó hoặc cho chính bạn, nhưng cũng có thể đó là một tình huống hay hoàn cảnh nào đó – ở quá khứ, hiện tại hay tương lai – mà lý trí của bạn không muốn chấp nhận. Vâng, có khi chúng ta oán ghét tương lai. Đây là lúc lý trí không chịu chấp nhận rằng tương lai là một điều không thể biết trước và nằm ngoài tầm kiểm soát của trí năng. Tha thứ là từ bỏ những lời kêu ca, phàn nàn và buông bỏ nỗi sầu khổ. Tha thứ sẽ đến một cách tự nhiên khi bạn nhận thức rằng sự phàn nàn không có mục đích nào ngoài việc củng cố cảm giác sai lầm về một bản ngã giả tạo ở trong mình. Tha thứ là không còn tạo ra sự chống đối với sự sống – để cho sự sống biểu hiện qua chính bạn. Nếu không, bạn sẽ phải khổ đau và chịu đựng, đó là khi bạn cố kềm hãm dòng sinh lực của sự sống, nhiều lúc đưa đến nhiều tật bệnh về thể xác.

Khi bạn thực sự tha thứ, bạn sẽ giành lại được sức mạnh của mình từ vòng kiềm tỏa của lý trí. Bản chất của lý trí là không thể tha thứ, cũng như cái bản ngã sai lầm do lý trí tạo ra, cái bản ngã không thể tồn tại nếu không có sự xung đột và mâu thuẫn liên tục ở trong bạn. Chỉ có “bạn” mới có thể tha thứ. Lúc đó bạn trở nên có mặt hơn, bạn đi vào cơ thể, bạn cảm nhận được nỗi an bình và tĩnh lặng đầy tinh lực phát sinh từ Hiện Hữu. Vì thế Chúa Jesus đã nói “Trước khi con vào đền thờ, hãy mở lòng tha thứ”.

—–

 

SỰ LIÊN HỆ GIỮA BẠN VỚI CÕI VÔ TƯỚNG(13)

 

Quan hệ giữa sự hiện diện và cơ thể bên trong là gì?

Sự hiện diện là nhận thức rất thuần khiết – nhận thức đã tách ra khỏi lý trí, ra khỏi thế giới của hình tướng. Thân thể năng lượng bên trong của bạn là cây cầu nối kết bạn với Cõi Vô Tướng, và trong khía cạnh sâu xa nhất của nó, thân thể năng lượng vô hình tướng đó của bạn cũng chính là Cõi Vô Tướng: Suối Nguồn phát sinh ra khả năng nhận thức ở trong bạn, cũng như mặt trời là nơi phát ra ánh sáng. Khi bạn có nhận thức về cơ thể bên trong của mình chính là lúc Tâm – nhận thức nhớ lại nguồn cội của nó và trở về Nguồn.

Vô Tướng có giống với Hiện Hữu không?

Vâng. Từ “Vô Tướng” cố gắng diễn đạt, bằng cách nói ngược, cái mà không thể nói, nghĩ hay tưởng tượng ra được: Gọi Cái-Không-Thể-Nghĩ-Bàn đó là gì bằng cách nói lên những gì không phải là nó. Còn Hiện Hữu là một từ có ý nghĩa tích cực. Nhưng xin bạn đừng vướng mắc với hai từ ngữ này hay bắt đầu đặt niềm tin vào những từ đó. Chúng chỉ là những tấm bảng chỉ đường.

Ông nói rằng “sự có mặt ở trong tôi” chính là nhận thức khi đã được thu hồi từ sự kềm tỏa của trí năng. Ai làm công việc thu hồi này?

Chính bạn. Nhưng vì, về bản chất, bạn chính là nhận thức ở trong bạn, nên cũng có thể nói sự thu hồi đó chính là sự bừng tỉnh của nhận thức khỏi giấc mơ hình tướng. Như thế cũng không có nghĩa là hình hài, tướng trạng của bạn sẽ lập tức tan biến trong một vụ nổ bùng của ánh sáng. Bạn vẫn ở trong hình hài mình đang có, nhưng đã nhận thức được chiều sâu vô hình tướng và bất tử ở trong bạn.

Tôi phải thừa nhận rằng điều ông nói này nằm ngoài sự hiểu biết của trí năng tôi, tuy nhiên, ở một cấp độ sâu hơn, dường như tôi lại hiểu được những gì ông đang nói. Nó giống như là một cảm nhận nhiều hơn là một cái gì khác. Tôi có đang tự lừa dối mình?

Không có đâu. Cảm nhận sẽ giúp bạn đến gần với chân lý hơn là những suy nghĩ miên man, không-có-chủ-đích của mình. Những gì tôi đang nói cho bạn ở đây chỉ là những điều gì mà trong sâu thẳm, bạn đã biết rồi. Khi bạn đạt đến một mức độ nối kết sâu sắc với sự chân thật ở bên trong của bạn, bạn sẽ nhận ra ngay khi nghe một điều gì đến từ sự chân thật. Nếu chưa đến mức độ đó, việc luyện tập nhận thức sâu về cơ thể năng lượng ở bên trong của bạn sẽ mang lại chiều sâu nhận thức cần thiết cho bạn.

—–

 

LÀM CHẬM QUÁ TRÌNH LÃO HÓA

 

Nhận thức về cơ thể bên trong còn có những lợi ích khác về mặt thể chất. Một trong những ích lợi này là việc làm chậm lại đáng kể quá trình lão suy của cơ thể.

Trong khi cơ thể bên ngoài của bạn thường già nua và tàn lụi khá nhanh theo thời gian, cơ thể năng lượng vô hình bên trong của bạn vẫn không thay đổi mấy – ngoại trừ là bây giờ bạn cảm nhận được nó sâu sắc hơn và toàn vẹn hơn. Nếu bạn đang ở độ tuổi 20, thì trường năng lượng bên trong cơ thể bạn cũng sẽ được cảm nhận giống như khi bạn đã đến độ tuổi 80. Cũng sẽ sống động, đầy năng lực như thế. Từ khi thay đổi trạng thái trước đây (thường hay bận tâm vào bên ngoài cơ thể và hay bị chi phối, kềm tỏa bởi trí năng,…) sang trạng thái mới (chú tâm vào bên trong cơ thể và có mặt trong phút giây hiện tại) cơ thể của bạn sẽ trở nên nhẹ nhàng, trong sáng và sống động hơn. Và vì có thêm nhận thức ở trong bạn về thân thể bên trong, nên cấu trúc phân tử trong cơ thể bớt dày đặc hơn. Có thêm nhận thức tức là có ít tham đắm về vật chất hơn.

Khi bạn đồng nhất mình với cơ thể năng lượng phi-thời-gian ở bên trong nhiều hơn là với cơ thể vật lý ở bên ngoài, khi sự có mặt thường xuyên ở trong bạn trở thành một lối nhận thức mới, rất bình thường, thì quá khứ và tương lai sẽ không còn làm bận tâm được bạn, lúc đó bạn không còn tích lũy thêm thời gian tâm lý(14) nữa vào trong những tế bào của cơ thể. Tích lũy thời gian chính là gánh nặng tâm lý của quá khứ và tương lai, nó sẽ cản trở nhiều đến khả năng tự làm mới của tế bào. Vì vậy nếu bạn an trú được ở bên trong cơ thể năng lượng của mình, thì quá trình lão suy của cơ thể bên ngoài của bạn sẽ được chậm lại nhiều lần, và ngay cả khi đang ở trong tuổi già, thì bản chất không-bị-chi-phối-bởi-thời-gian ở trong bạn sẽ chiếu rọi, tỏa ra bên ngoài, làm cho bạn không có dáng vẻ của một người già nua.

Ông có bằng chứng khoa học nào trong chuyện này không?

Bạn hãy thở và cảm nhận. Chính bạn sẽ là bằng chứng.

—–

 

 

GIA TĂNG HỆ THỐNG MIỄN NHIỄM

 

Một ích lợi khác về khía cạnh thể chất khi thực tập phương pháp này là hệ thống miễn nhiễm của bạn được làm mạnh lên rất nhiều. Điều này xảy ra khi bạn có mặt ở trong cơ thể, càng đưa ý thức vào bên trong cơ thể thì hệ miễn nhiễm ở trong bạn càng mạnh hơn. Giống như là tất cả các tế bào đều thức tỉnh và hoan lạc. Cơ thể bạn yêu thích sự quan tâm của bạn. Đây cũng là một cách bạn tự chữa lành cho mình với một tiềm năng rất cao. Hầu hết bệnh tật len lỏi vào khi ta không thực sự có mặt ở trong cơ thể. Nếu chủ nhân vắng nhà thì tất cả những gì ám muội sẽ xuất hiện và chiếm lĩnh chỗ cư trú đó. Khi bạn thường trú trong cơ thể củamình thì những người khách không được mời đó sẽ khó mà vào nhà bạn được.

Không chỉ hệ miễn nhiễm trong cơ thể bạn được tăng cường, mà hệ miễn nhiễm tâm linh của bạn cũng được tăng cường theo. Điều này sẽ bảo vệ cho bạn khỏi rơi vào ảnh hưởng tiêu cực của các trường năng lượng cảm xúc–tinh thần tiêu cực của người khác. Trường năng lượng này thường lan nhiễm ra rất nhanh. Thường trú trong cơ thể bảo vệ bạn không những bằng cách dựng nên một tấm chắc, mà còn nâng cao tần số rung của toàn bộ trường năng lượng chung quanh bạn, để cho những gì rung động ở những tần số thấp hơn như một nỗi sợ hãi, giận dữ, buồn rầu,… giờ đây không còn ảnh hưởng đến bạn vì chúng chỉ tồn tại trong một trật tự riêng biệt của một thực tại khác. Nó không còn chen vào trường năng lượng của nhận thức ở trong bạn nữa. Nếu có, thì bạn cũng không cần phải chống lại năng lượng có tần số rung thấp đó vì nó chỉ đi băng qua bạn thôi. Xin bạn hãy đừng chấp nhận hay bài bác ngay những gì tôi đangnói. Mày hãy tự thử nghiệm cho chính mình điều này.

 

Bài tập 6.b: Thực tập Hơi Thở Có Ý Thức

Bạn có thể sử dụng một phương pháp thiền quán rất đơn giản nhưng có công năng rất mạnh giúp làm tăng hệ miễn dịch của mình. Phương pháp này không những rất hiệu quả đối với các triệu chứng đầu tiên của bệnh tật mà nó còn có tác dụng tốt với những căn bệnh đã có từ lâu, nếu bạn áp dụng thường xuyên và với sức tập trung mạnh mẽ. Đồng thời bài tập này cũng giúp bạn được miễn nhiễm những năng lượng tiêu cực khi có những xáo trộn xảy đến cho trường năng lượng của bạn. Tuy nhiên, điều này không thể thay thế cho cách tập luyện có mặt trong cơ thể từng-phút-từng-giây, nếu không thì hiệu quả của nó cũng chỉ là tạm thời. Ta hãy làm như sau:

Khi bạn có một vài phút thư giãn, đặc biệt là ban đêm trước khi bạn ngủ và nhất là vào buổi sáng trước khi bạn ra khỏi giường, hãy để cho nhận thức của mình “tràn ngập” thân thể mình. Hãy nhắm mắt lại. Nằm ngửa duỗi thẳng người. Trước hết bạn hãy chọn một phần nào đó trên cơ thể của bạn để giữ sự chú tâm của mình trong một thời gian như: tay, bàn chân, cánh tay, cẳng chân, bụng, ngực, đầu… Hãy cảm nhận năng lượng của sự sống trong những phần đó càng mạnh càng tốt. Với mỗi bộ phận, hãy duy trì sự chú tâm của bạn khoảng 15 giây. Xong hãy để sự chú tâm của bạn lan đi khắp cơ thể, như một ngọn sóng, trong vài lần, từ chân lên đầu và ngược lại. Động tác này mất khoảng chừng một phút. Sau đó, bạn cảm nhận toàn bộ cơ thể bên trong như là một trường năng lượng đơn thuần. Hãy giữ lấy cảm giác đó trong vài phút. Hãy có mặt cao độ trong suốt quá trình đó, và hãy có mặt trong mỗi tế bào trong người bạn. Nếu thỉnh thoảng lý trí bạn có đưa bạn ra khỏi sự chú tâm bên ngoài cơ thể hay bạn bị cuốn hút theo vài ý tưởng nào đó thì bạn cũng đừng quá quan tâm. Khi nào bạn nhận ra điều này, thì bạn hãy đưa sự chú tâm của mình trở về lại trong người mình.

—–

 

ĐỂ HƠI THỞ ĐƯA BẠN VÀO BÊN TRONG CƠ THỂ BẠN

 

Nhiều lúc, lý trí của tôi quá bận rộn. Vì bị cuốn hút theo một quán tính của suy tư mà tôi cảm thấy không thể thu hồi lại sự chú tâm của mình ra khỏi những suy tưởng đó để trở về, cảm nhận cơ thể bên trong của tôi. Điều này xảy ra khi tôi rơi vào những khuôn mẫu phản ứng lo lắng, bất an, tiêu cực(15) ở trong tôi. Ông có cách nào không?

 Bất cứ khi nào bạn cảm thấy khó khăn khi muốn tiếp xúc với phần cơ thể bên trong, điều dễ dàng nhất là bạn hãy tập trung vào hơi thở trước. Hơi thở có ý thức(16), là một phương pháp thiền quán giúp bạn an tĩnh tâm thần rất mạnh mẽ, sẽ giúp bạn dần dần liên lạc lại với cơ thể bạn.  Theo dõi hơi thở với sự chú tâm của mình khi bạn đang thở vào, hay đang thở ra. Bạn hãy thở vào, và cảm nhận bụng mình đang phồng lên và xẹp xuống qua từng hơi thở vào, ra. Nếu bạn cảm thấy dễ hình dung một cái gì đó thì nhắm mắt lại và thấy mình như đang được bao quanh bởi ánh sáng hay đang chìm trong một chất phát sáng – một biển nhận thức bao la. Sau đó bạn thở vào và thâu hết luồng sáng đó vào người mình. Hãy cảm nhận là chất phát sáng đó đang tràn ngập cơ thể bạn và làm cho cơ thể bạn cũng phát sáng. Rồi bạn để sự chú tâm của mình nhiều hơn vào những cảm xúc ở bên trong. Bây giờ bạn đã ở trong cơ thể của mình. Hãy nhớ đừng bị vướng mắc với bất cứ hình ảnh nào mà bạn nhìn thấy.

—–

 

HÃY SỬ DỤNG TRÍ NĂNG CỦA BẠN MỘT CÁCH SÁNG TẠO

 

Nếu bạn cần sử dụng trí năng cho một mục đích đặc thù nào đó, hãy dùng nó để liên kết với cơ thể bên trong của bạn. Chỉ khi nào bạn có thể nhận thức mà không vướng chút suy tư nào, lúc đó bạn mới có thể dùng lý trí của mình một cách sáng tạo và cách dễ nhất để thực hiện điều đó là đi vào bên trong cơ thể của mình. Khi nào bạn cần có một câu trả lời, một giải pháp hay một ý tưởng sáng tạo, bạn hãy dừng lại hết mọi suy tư trong chốc lát và tập trung sự chú tâm của mình vào trường năng lượng bên trong cơ thể bạn. Hãy chú tâm đến sự tĩnh lặng ở bên trong. Khi bắt đầu suy nghĩ trở lại, những suy tư ấy sẽ tươi trẻ và đầy sáng tạo. Trong bất cứ hoạt động suy tư nào, bạn hãy tạo một thói quen dao động một vài phút giữa suy tư và yên tĩnh, lắng nghe sự tĩnh lặng của bạn ở bên trong. Chúng ta có thể nói là: Đừng chỉ suy tư với cái đầu, hãy suy tư với toàn bộ cơ thể của mình.

—–

 

NGHỆ THUẬT LẮNG NGHE

 

Khi lắng nghe người khác, bạn đừng chỉ lắng nghe với lý trí, mà hãy nghe với toàn bộ cơ thể của mình. Khi lắng nghe, hãy cảm nhận trường năng lượng của cơ thể năng lượng bên trong bạn. Điều đó giúp bạn tách sự chú tâm ra khỏi những suy nghĩ và tạo ra một khoảng không gian yên tĩnh, giúp bạn lắng nghe thực sự mà không bị trí năng quấy rầy. Lúc đó, bạn đang cho người kia không gian – không gian để thể hiện. Đó là một món quà quý giá nhất bạn có thể cho người đó. Hầu hết mọi người thường không biết cách lắng nghe, vì những suy tư ở trong đầu họ thường chiếm hết sự chú tâm của họ. Họ chú ý vào những suy tư đó hơn là những gì người kia đang nói, và không chú tâm tí nào đến một điều quả thực rất quan trọng là: Sự Có Mặt của người kia, bên dưới những ngôn từ và suy tư. Dĩ nhiên là bạn không thể cảm nhận được sự Hiện Hữu của người khác, ngoại trừ sự Hiện Hữu ở trong chính bạn. Đây chính là bước khởi đầu của quá trình nhận thức về cái Một, Cái Duy Nhất(17), tức cũng là tình yêu. Ở cấp độ sâu nhất của Hiện Hữu, bạn là một với tất cả.

Hầu hết quan hệ con người chỉ đơn thuần là sự tương tác giữa lý trí với nhau, mà không phải là hai con người đang giao tiếp, đang hòa nhập với nhau. Không có mối quan hệ nào có thể phát triển được theo chiều hướng đó, và đó cũng là lý do tại sao trong quan hệ giữa người với người có quá nhiều xung đột. Khi đời bạn còn bị khống chế bởi lý trí thì xung đột, mâu thuẫn và rắc rối là điều không thể tránh khỏi. Khi liên kết được với cơ thể bên trong của mình tạo ra một chiều không gian-không-có-lý-trí-kềm-tỏa, thì quan hệ của bạn với người khác mới được đơm hoa, kết trái trong không gian đó.

—–

Chú thích

  1. Cơ Thể Năng Lượng: Là thân thể bên trong ta làm bằng nhiều lớp năng lượng vi tế của vũ trụ. Những người nhạy cảm có thể nhìn thấy mầu sắc hay cảm được thân thể của năng lượng này. Nhân điện là liệu pháp tác động vào những thân năng lượng này.
  2. Chân Ngã: Cái ‘Tôi’ chân thật, thâm sâu nhất của mình. Ta chính là Hiện Hữu, là tất cả những gì đang biểu hiện một cách sống động từng giây, từng phút trong phút giây này. Chân ngã của ta không có giới hạn, và vô hình nên trí năng của ta không thể nào khái niệm được.
  3. An trú trong cơ thể mình: Hay có mặt, giữ tâm ý trong cơ thể mình, biết được thân thể mình đang có đó, có mặt với những gì đang xảy ra ở trong cơ thể của mình.
  4. Chủ thể và đối tượng: Trong thiền quán danh từ chủ thể là người quan sát, người đặt sự chú tâm vào một cái gì đó. Đối tượng là vật hay đề tài mà ta đang sát, đang đặt sự chú tâm của mình vào. Ví dụ bạn đang nhìn một bông hoa, thì bông hoa đang trở thành là đối tượng của bạn. Khi Eckhart Tolle nói trong Hiện Hữu, chủ thể và đối tượng trở thành một, đồng nhất, hòa vào với nhau, không còn sự phân biệt giữa người quan sát và đối tượng đang được quan sát nữa.
  5. Vượt lên trên Tên Gọi và Hình Tướng: Hiện Hữu là cái ta chỉ có thể cảm nhận trực tiếp qua sự có mặt của mình, mà không thể qua suy nghĩ, hoặc tư duy. Vì Hiện Hữu vượt lên trên những gì chúng ta có thể khái niệm, đặt tên được, hoặc những gì có hình thể, hay tướng mạo để ta có thể diễn tả hoặc khái niệm được.
  6. Cái Tôi biệt lập: Là ấn tượng ở trong ta, có vẻ rất thật, nhưng sai lầm rằng có một bản ngã, một cá thể, một con người… ở trong ta, biệt lập, không dính dáng gì đến thế giới chung quanh, ta phải tự lo liệu chuyện sinh kế, sống còn…
  7. Chữ mật ong không phải là mật ong: Vì chữ mật ong chỉ giúp cho ta một khái niệm về mật ong thôi, đâu thể thay thế cho mật ong thực sự hay kinh nghiệm vị ngọt khi ta bỏ mật ong vào lưỡi. Cũng như tấm bản đồ giúp ta có một khái niệm về một lãnh thổ, nhưng tấm bản đồ (chỉ là một mảnh giấy có nhiều ghi chú) không phải là tự thân lãnh thổ ấy.
  8. Nhất thể: Cảm nhận hợp nhất với vạn vật, đất trời, muông thú… tất cả.
  9. Ăn chay: Một thực tập vì lòng xót thương mạng sống của thú vật, chim muông, hoặc để giữ gìn sức khỏe hay có được sự quân bình năng lượng ở trong người.
  10. Hành hạ thân xác: Một lối thực tập thiếu từ bi bằng cách tự hành hạ mình, như dùng roi quất vào lưng mình hay mang dây gai ở trong người để thân thể luôn cảm thấy bị đau đớn.
  11. Phản ứng lý trí – tình cảm tiêu cực đã bị điều kiện hóa được nảy sinh: Cách chúng ta cư xử, suy nghĩ theo một thói quen, một khuôn mẫu nhất định, bó buộc, không thể làm khác đi được. Một trong những khuôn mẫu cư xử từ quá khứ là từ những cách cư xử của cha, mẹ hoặc những người thân trong gia đình cư xử với nhau,… Ví dụ: Khuynh hướng bạo động, tự hủy mình hoặc bạo động với người khác khi phải đối diện với nỗi khổ đau quá lớn ở trong ta.
  12. Sự chú tâm của ta là định lực, như là tia sáng được hội tụ, tập trung lại khi đi qua một chiếc kính lúp, cho nên có sức mạnh soi thủng những vô minh, khổ đau dày đặc ở trong tâm thức của chúng ta. Ví dụ khi ta có một nỗi khổ ở trong lòng, chỉ cần ta yên lặng, đặt hết sự chú tâm của mình vào cảm xúc tiêu cực đó mà không có thái độ phản ứng, hay phán xét,… thì một lúc sau, tự nhiên những khổ đau, vô minh đó sẽ được chuyển hóa, trở thành niềm an lạc, trở thành nhiên liệu của ý thức. Một người vừa chuyển hóa được một mối khổ lớn thì nhận thức của người đó càng được thắp sáng hơn.
  13. Cõi Vô Tướng: Cõi chưa biểu hiện, nhưng tràn đầy tinh lực. Cõi Vô Tướng là cái nôi, là Cội Nguồn của tất cả những gì đang được biểu hiện, trong đó có thế giới vật lý mà chúng ta đang sống.
  14. Thời gian tâm lý: đó là quá khứ và tương lai. Quá khứ là những gì đã qua, nhưng dư âm vẫn còn vang vọng lại trong lòng chúng ta, thường là vì chúng ta vẫn chưa hoàn tất với quá khứ, có những niềm đau, nỗi khổ trong quá khứ mà chúng ta vẫn còn trốn chạy, không muốn cảm nhận,… nên quá khứ vẫn còn đó. Không biết rằng, ta chỉ cần yên lặng, ý thức, đối diện, quan sát mà không phê phán, những cảm xúc khổ đau, khó chịu đó khi chúng trở về ở trong lòng ta, ta sẽ hóa giải được ngay tức khắc những khổ đau này. Nếu cần khóc, ta cứ khóc tự nhiên để rũ bỏ những khổ đau này. Hoặc trong khi tâm ta đang ở trong trạng thái thiếu hiểu biết, có khi chúng ta vẫn còn tưởng rằng quá khứ đang xảy ra, nên ta vẫn luôn bị ám ảnh, và bị quá khứ chi phối đời sống hiện tại của chúng ta. Tương lai là những gì chưa xảy ra nhưng, vì không ý thức, ta cứ để những suy tư, lo lắng về tương lai ở trong ta chi phối đời sống của chúng ta trong phút giây hiện tại.
  15. Khuôn mẫu phản ứng lo lắng, bất an: Trong ta có những phần rất lo lắng, ưu tư cho sự sống còn, muốn có một bảo đảm về vật chất, tinh thần,… trong tương lai. Nên khi những khuôn mẫu phản ứng lo lắng, bất an này trong ta bị kích thích, ta trở nên nóng nảy, bồn chồn như một người đang ngồi trên lửa. Chúng ta có thể sống an nhiên, tự tại trong phút giây này, không muốn phí công lo nghĩ, sợ hãi những gì chưa xảy đến vì tương lai là điều luôn nằm ngoài vòng kiểm soát của chúng ta.
  16. Hơi thở có ý thức là một thực tập sâu sắc nhất trong Thiền Tập giúp bạn có mặt với chính mình và với những gì xảy ra chung quanh bạn.
  17. Cái Duy Nhất: Cái Một, Cái Tất Cả, là Đời Sống, nơi mọi thứ trở thành hợp nhất trong sự toàn vẹn, vĩnh cửu, hiện tiền.